Vua Minh Mạng là ai? Vua Minh Mạng (sinh năm Tân Hợi 1791, mất năm Tân Sửu 1841) có cả thảy 43 người vợ. Chuyện hậu cung của vị vua này cũng có nhiều nét khác biệt mà đến giờ vẫn còn nhiều bí mật và dị bản khác nhau. Có những đêm vua Minh Mạng có thể ân sủng đến 4 ái Chuyện lạ: Vua Minh Mạng bị chặn đường trách cứ, nói mỉa - nguyên nhân vì sao? Minh Mạng là vị vua có nhiều đóng góp và để lại dấu ấn lớn bậc nhất của triều Nguyễn. Và giai thoại dưới đây là một trong những ví dụ lớn về cách trị quốc an dân của ông. Có rất Trong lịch sử phong kiến dân tộc ta, có hai cuộc cải cách lớn được lưu danh trong sử sách, đó là cuộc cải cách thành công thống nhất của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) và cuộc cải cách cũng đầy sáng tạo dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1840). Vì vậy, vua Minh Mạng là con thứ 4 được chọn lên ngôi vua, nên còn lại 10 anh em. Do đó, Minh Mạng đặt 10 bài thơ ngũ ngôn tứ cú. Mỗi bài tặng cho mỗi ông để buộc con cháu phải đặt tên kép theo quy định thứ tự các đời như các chữ kế tiếp nhau trong từng bài thơ. Bài Hoàng tử thứ 11 của vua Minh Mạng: Thông minh, hiếu học. Tuy Lý vương (1820-1897) có tên Nguyễn Phúc Thư, sau được ban tên Nguyễn Phúc Miên Trinh tại viện sau Thanh Hòa điện. Ông là con trai thứ 11 của Nguyễn Thánh Tổ Minh Mạng với bà Tiệp dư Lê Thị Ái. Miên Trinh vốn thông minh Nhằm mang đến cho bạn những trải nghiệm tuyệt vời, bổ ích nhất. Đội ngũ huấn luyện tại đây chuyên nghiệp, dày dặn kinh nghiệm. Wolf Muay Thai Gym Đặc biệt là có trình độ chuyên môn cao, trình độ cao. Người Trong Giang Hồ Chapter 2143: Ác chiến vua Muay Thai. s1c9. Vua Minh Mạng không chỉ nổi tiếng ở tài thao lược, mà còn vang danh hậu thế nhờ có sức khoẻ hơn người. Nhà vua hoạt động chăn gối về đêm đều đặn nhưng hằng ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt. Không chỉ có thế, Vua thường thức đến tận canh ba để làm việc. Điều đó cho thấy Vua Minh Mạng có một “thể chất tiên thiên” – cường tráng bẩm sinh. Chính sự khỏe mạnh đó đã góp phần không nhỏ vào sự vượng con của vị vua này. Một số tài liệu cũng cho thấy, Hoàng đế Minh Mạng có số lượng con nhiều nhất trong 13 đời vua Nguyễn. Ông để lại cho đời 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. Sách Kể chuyện các vua Nguyễn viết Trong đời sống thường nhật, có lẽ Vua Minh Mạng là người được hưởng nhiều vui thú nhất trong các vua Nguyễn ở chốn phòng the. Nhà vua có sức khỏe phục vụ tam cung lục viện, một đêm có thể “chiều” đến 5 – 6 cung tần. Tuy nhiên, thông thường, mỗi đêm, Vua chấm cho thái giám gọi 5 bà vào hầu, mỗi canh một bà. Trong số các bà ấy thì có khi đã có ba bà thụ thai. Có giai thoại rằng, để cẩn thận “tìm” đúng con vua, thái giám phải chuyển danh sách năm bà ấy cho Tôn nhơn phủ; phủ này lại chuyển một danh sách khác cho Quốc sử quán. Sau này, khi bà nào mãn nguyệt khai hoa, Quốc sử quán có trách nhiệm rà soát, đối chiếu xem thử từ ngày vua “đòi” đến kỳ sinh nở có đúng ngày đúng tháng không. Vậy, làm thế nào mà Vua Minh Mạng có “sức đàn ông” phi thường? Theo sử sách, các ngự y trong triều đã ngày đêm nghiên cứu, bào chế những bài thuốc có tính năng tráng dương bổ thận cho thiên tử dùng. Và nhờ “bồi bổ” Minh Mạng thang, gồm hai toa thuốc Nhất dạ ngũ giao và Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử – được thầy thuốc căn cứ vào thể chất và sinh hoạt của nhà vua để lập ra thang thuốc rượu, mà đấng quân vương nhà Nguyễn trở thành chiến binh dũng mãnh chốn phòng the. Tuy nhiên, các nhà y học hiện đại cho rằng, “phép thần thông” mà người ta đồn đại về Minh Mạng thang không hoàn toàn đúng 100%. Vua Minh Mạng là người có thực lực tính dục bẩm sinh, hứng thú ân ái. Những toa thuốc vua dùng chỉ mang tính trợ lực, chứ không phải đóng vai trò chủ trì quyết định. Ngoài ra, có một bằng chứng đơn giản, nếu Hoàng đế Minh Mạng có bài thuốc thần diệu như vậy thì tại sao Vua Tự Đức cháu nội lại không áp dụng được mà vẫn bị bất lực, không con? Cũng có đời sống tình dục phóng khoáng trong số các vị vua triều Nguyễn, Bảo Đại nổi tiếng là vị vua đa tình và ăn chơi khét tiếng một thời. Theo sách Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam của tác giả người Pháp Daniel Grandclément, sở thích hàng đầu của Hoàng đế Bảo Đại là đuổi theo những người đàn bà đẹp. Ông từng thẳng thắn bộc lộ sự ham muốn sắc dục của mình “Luôn có nhu cầu đối với đàn bà, một thứ nhu cầu thường xuyên không thể dập tắt được như đồ ăn thức uống. Từ khi đến tuổi lớn, đêm nào cũng phải có một người đàn bà nằm bên, mỗi đêm một người”. “Con người Bảo Đại có một phần mười của Farouk, hai phần mười của Machiavel và bảy phần mười của Hamlet… Ông đã dan díu với đủ hạng người, từ cô hầu phòng bình thường, vợ của các gia nhân đày tớ, hoa hậu Đông Dương đến gái nhảy, thậm chí gái điếm…”, một người thân thiết của cựu hoàng đã bình phẩm. Không chỉ thử “cảm giác” với người đẹp ở quê hương, ông hoàng Bảo Đại còn có đàn bà Trung Hoa, Hong Kong, Pháp, Nhật Bản, Zaire…. Theo Dantri Vua Minh Mạng lên ngôi đúng ngày mùng Một Tết. Ngay sau khi lên ngôi vua ban chiếu miễn thuế cho dân, thưởng cho tôn thất và các quan. Mùng 2 Tết, làm lễ cúng vua cha, mùng 3, yết các miếu thờ tổ tiên. Lăng vua Minh Mạng. Minh Mạng tên thật là Nguyễn Phúc Đảm 1791-1841, là vị vua thứ hai của triều Nguyễn. Ông là vị vua làm việc rất chăm chỉ, Đại Nam dưới thời trị vì của ông là quốc gia hùng mạnh bậc nhất trong khu vực, khiến ngoại bang nể sợ. Vua Minh Mạng lên ngôi ngày mùng Một Tết năm Canh Thìn 1820. Sử cũ ghi lại tương đối đầy đủ những hoạt động của nhà vua trong ngày Tết. Ngay sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng ban chiếu gồm 16 điều đặc ân như miễn thuế cho nhân dân, ban thưởng cho tôn thất và các quan. Ngày mùng Hai Tết, làm lễ cúng vua cha, ngày mùng 3, vua yết các miếu thờ tổ tiên rồi sau đó, ban tặng bạc và thưởng cơm rượu cho các bậc kỳ lão trong kinh kỳ. Trong năm ở ngôi đầu tiên, vua Minh Mạng vẫn đang trong thời gian để tang vua cha là vua Gia Long. Sau lễ giỗ lần đầu lễ Tiểu tường vua Gia Long vào ngày 19 tháng Chạp, vua Minh Mạng bàn với quần thần về nghi lễ Nguyên đán. Lễ Nguyên đán Quần thần tâu rằng sau lễ Tiểu tường, nhà vua có thể chủ trì lễ tế được rồi, và đề xuất đúng ngày Chính đán mùng Một Tết, nhà vua nên thân hành yết Thái miếu nơi thờ phụng các vị chúa Nguyễn. Các quan tham gia làm bồi tế, sau đó nhà vua về ngự điện ở Cần Chính, đổi mặc áo thường, các quan vẫn mặc triều phục, đợi ở sân điện Thái Hoà để vào triều kiến. Còn ngày thường thì nhà vua vẫn mặc áo trắng ngự ở Tiện điện mà nghe chính sự để trọn số tháng cư tang. Nhà vua nghe theo lời bàn đó. Do đó, vào ngày mùng Một Tết năm sau, tức năm Minh Mạng thứ 2 1821, nhà vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, tiến hành tế Thái miếu, sau đó ban lệnh miễn lễ triều hạ cho các quan. Sau đó vua đổi áo thường, ngự ở điện Cần Chính, các quan vào chiêm bái. Nhà vua ban cho các quan bạc thay cho việc đãi yến theo thứ bậc khác nhau. Ngày mùng 2, nhà vua dâng lễ lớn ở điện Hoàng Nhân, nơi thờ vua Gia Long. Đến ngày mùng 7 thì chính thức khai ấn. Ngày mùng 10, nhà vua cho tiến hành duyệt binh. Nhà vua mặc nhung phục ngự ở điện Càn Nguyên xem duyệt. Lệ duyệt binh bắt đầu từ đấy. Cũng từ năm này, vua Minh Mạng cho thủy quân diễn tập chèo thuyền và lấy làm lệ thường niên. Năm Minh Mạng thứ 4, được mùa, khi khai bút đầu năm, nhà vua đã tự viết 6 chữ lớn “Phúc Thọ Thượng Thọ Hữu Niên” vào 4 bức giấy rồng, đưa bảo bầy tôi rằng “Năm mới trẫm khai bút viết sáu chữ ấy, hai chữ “Thượng Thọ” là dâng cung Từ Thọ nơi ở của Thái hậu, để cầu phúc lớn, hai chữ “Hữu Niên” để cầu cho dân ta năm nay được mùa, hai chữ “Phúc Thọ” để ở bên hữu chỗ ngồi để theo ý nghĩa nhà vua thu phúc mà ban cho dân”. Vua Minh Mạng cũng thường xuyên làm thơ khai bút đầu xuân. Thường nhà vua ngự ở điện Văn Minh, triệu hoàng thân và văn võ đại thần cho ngồi, ban nước chè uống, bình thơ vua làm. Trong số rất nhiều bài thơ xuân của nhà vua, bài “Ngày Tết Nguyên đán khai bút”, có câu “Canh diệt tứ thời nhưng phục thuỷ, Ưu cần nhất niệm hựu tòng đầu…”. Bốn mùa thay đổi quay vòng mới, Một dạ chăm lo lại bắt đầu. Giảm thuế, ban thưởng trong chiếu xuân Trong thời gian trị vì, nhiều lần trong chiếu đầu xuân, vua Minh Mạng giảm thuế cho nhân dân, như năm đầu lên ngôi, năm thứ 5, thứ 6, thứ 10… Mức thuế được giảm từ 1 phần 10 đến 4 phần 10, tùy vào tình hình mùa màng của từng địa phương. Không chỉ ban thưởng cho các quan trong kinh, ngày Tết, vua Minh Mạng cũng nhớ đến các quan ở xa. Năm Minh Mạng thứ 6, nhà vua bảo thị thần rằng “Sự mừng xuân ban khắp cả bầy tôi mà thành thần Gia Định vì giữ ngoài không được dự yến ở triều đình, trẫm rất lấy làm áy náy”. Vua bèn sai thị vệ đem phẩm vật ban cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt, các văn võ thuộc thành như Trương Tiến Bửu, Nguyễn Văn Thuỵ, Nguyễn Xuân Thục, Trần Nhật Vĩnh đều được thưởng chỉ thưởng cho các quan, vua Minh Mạng cũng ban cho các giám sinh Quốc tử giám mỗi người 10 quan tiền. Quan bộ Hộ là Nguyễn Hữu Thận nói thưởng thế là quá hậu. Vua trả lời rằng “Cho con hát đàn bà hầu hạ thì không nên hậu, chứ học trò của báu của nhà nước, ngày nay nuôi để ngày khác dùng, há chẳng nên hậu hay sao ?”. Ngày đầu năm, nhà vua cũng ban thường cho những người dân sống thọ, như ân chiếu ban hành năm Minh Mạng thứ 11, quy định các kỳ lão trên 100 tuổi ban thưởng 3 lạng bạc, trên 90 tuổi thưởng 2 lạng bạc, trên 80 tuổi thưởng 1 lạng bạc. Đầu xuân, nhà vua thường xuất hành du xuân ra ngoài thành, như năm thứ 6, ngự ra Đông Giao, khi đi về lệnh giảm thuế thân 1 phần 10 cho dân các xã đi qua, lại thưởng thêm cho dân xã 500 quan tiền. Năm sau, vua xuất hành đi thăm về phía đông Kinh thành, cũng thưởng cho dân ở dọc đường quan tiền. Năm Minh Mạng thứ 8 1827, nhân lễ Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, đầu năm nhà vua ban ân điển gồm 13 điều, như miễn hết tiền thuế thân, tiền đầu quan, tiền điệu, tiền cửa đình cho cả nước, giảm tiền thóc gạo thuế lệ về điền thổ tới 5 phần 10… Từ năm Minh Mạng thứ 10, triều đình bắt đầu làm lễ Nghênh xuân và Tiến xuân, tức các lễ đón xuân và tiến thần Câu mang, với con trâu đất, để cầu nguyện cho thời tiết được lành, mùa màng được thuận. Lễ tế cờ Năm này, vua Minh Mạng cũng cho đổi lễ Đầu xuân ra quân làm lễ tế cờ. Theo đó, ngày 11 tháng Giêng, nhà vua đặt triều nghi ở điện Cần Chánh để quan Khâm mạng bái mạng. Đến kỳ tế cờ, trước một ngày Hữu ty làm đàn đặt án ở ngoài quách phía nam Kinh thành, án giữa đặt một bài vị “Kỳ đạo chi thân”, án bên trái đặt ba bài vị “Kỳ đầu đại tướng”, “Lục đạo đại tướng”, “Ngũ phương kỳ thần”, án bên phải đặt 4 bài vị “Chủ tể chiến thuyền chính thân”, “Kim cổ dác nạo pháo chi thần”, “Cung thỉ phi thương phi thạch chi thần”, “Trận tiền trận hậu thần kỳ”, đều hướng về phía nam. Trước án thờ đều bày lễ tam sinh cúng các loại gia súc trâu, dê, lợn, hai bên có 300 biền binh mang súng, 10 con voi lễ, 3 cố đại bác. Ngày tế cờ, quan Khâm mạng làm lễ, sau đó bắn 3 phát đại bác, rồi trở về phục mạng. Theo lệ ban yến và thưởng cho các hoàng tử thân công và các quan văn võ, thì các quan từ cấp Chánh ngũ phẩm trở lên mới được dự tiệc. Năm 1828, do là dịp Tứ tuần đại khánh nhà vua tròn 40 tuổi, nên vua cho đặc cách cho các quan văn từ Chánh lục phẩm trở lên, võ giai thực thụ Suất đội đều được dự. Đến năm Minh Mạng thứ 17 1836, lại ban quy định là vào lễ tết Nguyên đán trong cung đình từ hoàng tử tước công và quan viên văn võ đều cho ăn yến tiệc, thưởng đồ vật có thứ bậc. Ngoài việc giữ nghiêm lễ tế các vị tổ tiên, vua Minh Mạng cũng yêu cầu tế lễ chu đáo các đền thờ các vua thời trước, như trong dụ ban hành cuối năm Minh Mạng thứ 7 1826 “Những thành trấn khác có đền miếu thờ tự đế vương, văn thánh các đời mỗi nơi lập một đàn tế tự và phối tế với các miếu thờ thần trong điển tại trị sở”. Theo LÊ TIÊN LONG / TRI THỨC TRỰC TUYẾN Tags Vua chúa Việt Nam, Nhà Nguyễn, Tết Nguyên đán, Minh Mạng Vào thời phong kiến, Hoàng đế thường được xem như "thiên tử", ngồi ở vị trí cửu ngũ chí tôn. Vì vậy, phàm là việc liên quan tới nhà vua thì sẽ nghiễm nhiên được xem trọng, việc thị tẩm để duy trì huyết thống hoàng gia cũng là một trong số nhưng ít ai biết rằng, quá trình lâm hạnh phi tần của nhà vua thực chất cũng phải tuân thủ không ít nguyên tắc. Điều đáng nói nằm ở chỗ, người chịu thiệt vì các quy định ngặt nghèo này không chỉ có phi tử mà có đôi khi là cả Hoàng có chuyện ai cũng dễ dàng lên được long sàng của Hoàng đếKhác với trên phim ảnh, những đối tượng được Hoàng đế sủng hạnh rất có giới hạn. Bởi thị tẩm là việc liên quan tới vấn đề duy trì huyết thống cho hoàng tộc. Ảnh minh họa Nguồn Baidu.Mặc dù mỗi khi nhắc tới hậu cung của đế vương, nhiều người thường vô tình mường tượng đó là nơi có hàng ngàn mỹ nhân, giai lệ, còn nhà vua thì sẽ được tùy ý lựa chọn người mình thích. Thế nhưng trên thực tế lại không phải như người được phép hầu hạ chuyện chăn gối của đế vương thường chỉ giới hạn trong ba đối tượng Thứ nhất là phi tần đã được sắc phong, thứ hai là cung nữ, thứ ba là nam sủng nếu có.Trong một số tình huống đặc biệt, một số quan viên trong triều hoặc các chư hầu sẽ chủ động dâng tặng mỹ nữ cho Hoàng vậy, những trường hợp này vẫn chỉ là thiểu số, hơn nữa rất ít khi có tiền lệ nhà vua tùy ý sủng hạnh những đối tượng không rõ danh tính hay không có xuất thân rõ ràng, trong sạch. Bởi việc thị tẩm liên quan trực tiếp đến huyết thống hoàng tộc và danh dự của bậc đế tần không được phép mặc y phục khi tới thị tẩmĐể đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Thiên tử, các phi tần được triệu vào thị tẩm sẽ không được phép mặc y phục. Ảnh minh họa Nguồn Baidu.Trong nhiều tác phẩm phim cổ trang, người xem thường thấy cảnh các phi tần được triệu đi thị tẩm sẽ không mặc y phục mà được cuộn vào chăn và đưa tới tẩm cung của Hoàng tắc này thực chất đã tồn tại từ thời nhà Nam Minh và tới thời nhà Thanh thì chính thức trở thành một bước buộc phải tuân thủ trong quá trình thị phi tần không được mặc y phục khi đến thị tẩm chủ yếu để giữ an toàn cho Hoàng đế. Bởi sự thực là lịch sử Trung Hoa đã từng ghi nhận không ít trường hợp hậu phi, cung nữ tìm cách ám sát nhà lệ này cũng được xem là cần thiết khi mà vào thời Minh – Thanh, tình hình chính trị trong nước có nhiều bất ổn, đặc biệt là sự xuất hiện của hàng loạt bản án văn tự án có liên quan tới chữ nghĩa vào đầu thời nhà Thanh khiến hàng ngàn người phải chết một cách oan một hành động tùy tiện cũng có thể thất sủng, thậm chí rơi đầuChiếu theo quy trình thị tẩm bốn bước vào thời nhà Thanh, phi tần sau khi được đưa tới tẩm cung của Hoàng đế cũng không thể bước lên long sàng hoặc vén chăn một cách tùy đó, Hoàng đế sẽ lên nằm trên giường, nhưng không đắp kín chăn mà để lộ ra một phần bắp chân của tử khi được đưa vào hầu hạ sẽ bước lên phía cuối giường, sau đó từ từ chui vào trong chăn từ phía chân mà Hoàng thượng để khi hầu hạ xong, vị phi tần ấy lại phải từ từ bò xuống cuối giường và chui ra từ phía góc chăn ban ý kiến cho rằng, quy tắc thị tẩm cẩn trọng đến từng chi tiết này mặc dù đảm bảo sự an toàn và uy nghi của Thiên tử, nhưng cũng thể hiện rõ thái độ "trọng nam khinh nữ" đã thâm căn cố đế vào quan niệm của người Trung Hoa đế cũng có lúc... không được "tận hứng"Những tưởng Hoàng đế là người có thể tùy ý hưởng dụng mỹ nữ, thế nhưng ít ai biết rằng họ cũng có những lúc "muốn mà không được". Ảnh minh họa Nguồn Baidu.Ngay cả khi có trong tay hậu cung với vô số mỹ nữ, các Hoàng đế cũng đôi khi không được làm chủ chuyện vợ chồng của chính biệt là vào thời nhà Thanh, giờ giấc lâm hạnh đã được cơ quan chuyên quản lý việc thị tẩm là Kính Sự phòng quy định rất rõ đó, Hoàng đế và hậu phi chỉ được thị tẩm trong khoảng nửa giờ, tương đương khoảng 30 phút. Khi đã tới giờ, thái giám Kính Sự phòng sẽ lên tiếng nhắc nhở nhà trường hợp Hoàng đế còn muốn tiếp tục, Kính Sự phòng sẽ gia hạn thời gian bằng cách nhắc nhở thêm lần thứ hai, lần thứ ba. Tuy nhiên khi đã tới lần thứ ba, dù nhà vua vẫn chưa tận hứng thì các thái giám vẫn buộc phải đưa phi tần về cung. Đây là quy định thuộc vào tổ chế đã được quy định từ khi mới lập quốc để tránh Thiên tử say mê tửu sắc mà bỏ bê chuyện triều có khái niệm riêng tư tuyệt đối trong chuyện chăn gốiMặc dù là vợ chồng trên danh nghĩa, nhưng các phi tần không mấy ai được phép qua đêm ở tẩm cung của Hoàng nữa, quá trình lâm hạnh của nhà vua cũng không có sự riêng tư tuyệt đối bởi luôn có các thái giám, cung nữ túc trực bên ngoài chờ mệnh biệt là vào thời nhà Thanh, người của Kính Sự phòng thậm chí còn phải theo dõi sát sao việc thị tẩm của nhà vua để ghi lại những số liệu cần phận của tần phi được quyết định bằng một câu hỏi từ thái giámKhông những phải tuân thủ các thủ tục rườm rà về quy củ, việc phi tần có được phép mang thai hay không cũng phải phụ thuộc vào quyết định của người khác.Ảnh minh họa Nguồn Baidu.Ngày nay, mang thai và làm mẹ được xem là thiên chức của người phụ nữ. Tuy nhiên vào thời phong kiến, các phi tần có được mang long thai hay không còn phải phụ thuộc vào ý muốn của nhà khi kết thúc quá trình thị tẩm, thái giám Tổng quản sẽ hỏi Hoàng đế một câu đầy ngụ ý "Lưu hay không lưu?"Nếu Thiên tử trả lời là "lưu" thì đồng nghĩa với việc phi tần này được phép mang long thai. Còn trong trường hợp câu trả lời là ngược lại thì thái giám buộc phải làm mọi cách để ép ra "long tinh" từ trong cơ thể của người phương pháp tránh thai thời cổ đại vốn được xem là thiếu khoa học và gây hại với cơ thể phụ nữ. Trong cung đình, thủ thuật hay dùng là ấn huyệt để khiến "long tinh" đi nhưng nếu đã thực hiện thủ thuật này mà vị phi tần kia vẫn mang thai ngoài ý muốn thì các thái giám sẽ tìm mọi cách để khiến người đó sảy thai, bao gồm cả việc cho uống độc dược hoặc nhiều hình thức khác man rợn những luật lệ ngặt nghèo trên đây, không khó để nhận thấy quá trình lâm hạnh của vua chúa và phi tần thời xưa không hề đơn giản mà phải đảm bảo hoàn thành rất nhiều thủ tục. Thế nhưng dù vậy, canh bạc đổi đời mang tên "thị tẩm" vẫn trở thành mục tiêu tranh đoạt của vô số cuộc chiến đẫm máu chốn thâm cung.*Tổng hợp Tài liệu tổng hợp ngày nay cho rằng “nhất dạ lục giao” là toa thuốc của vua Minh Mạng. Vua Minh Mạng là ai? Vua Minh Mạng sinh năm Tân Hợi 1791, mất năm Tân Sửu 1841 có cả thảy 43 người vợ. Chuyện hậu cung của vị vua này cũng có nhiều nét khác biệt mà đến giờ vẫn còn nhiều bí mật và dị bản khác nhau. Có những đêm vua Minh Mạng có thể ân sủng đến 4 ái phi cũng bởi nhờ bài thuốc này. Sau khi lên ngôi kế vị, vua Minh Mạng bên cạnh những sứ mạng lớn lao cho quốc gia đại sự thì ngài cũng giống như các vị tiên đế, chẳng hề quên “trọng trách” của mình đối với tam cung lục viện, với hàng ngàn cung tần mỹ nữ trẻ đẹp. Để giúp cho vua Minh Mạng chu toàn mọi sứ mạng, một vị quan ngự y riêng được tín cẩn đã bỏ công nghiên cứu và sáng chế ra một bài thuốc ngâm rượu đặc biệt dâng hiến cho vua, mục đích là giúp ngài nâng cao thể lực, tráng kiện minh mẫn, luôn sáng suốt trong vai trò an dân trị quốc, đồng thời cũng bao hàm thêm một hậu ý khác nữa là để đắc lực trợ chiến mỗi khi loan phòng hữu sự. Lịch sử cho thấy 20 năm trị vì, vua Minh Mạng đã làm được rất nhiều việc tốt đẹp cho đất nước trên nhiều lĩnh vực hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội... Có thể nói thời Minh Mạng là đỉnh cao của vương triều Nguyễn. "Nhất dạ lục giao tam hữu dựng" - bí mật phòng the của vua Minh Mạng Tài liệu tổng hợp ngày nay cho rằng “Nhất dạ lục giao” là toa thuốc của vua Minh Mạng, bởi vì tương truyền, chính vua Minh Mạng đã từng có thơ nhắc đến việc “Nhất dạ lục giao tam hữu dựng” một đêm 6 lần giao hợp, 3 lần có con. Về sau tương truyền đó được gọi là toa thuốc có tên "nhất dạ lục giao". Xét về số con của vua Minh Mạng thì hậu thế phải công nhận ông thuộc vào loại có khả năng tính dục tuyệt luân. Theo sử sách, hằng đêm, vua thức khuya để coi chương sớ từ các phiên trấn gửi về đến canh ba tức hơn 11 giờ khuya mới đi ngủ. Truyền thuyết đồn rằng, vào một buổi tối kia, sau khi nhâm nhi hết vài ly rượu thuốc, ngài đã xung độ lên và giao hoan trong đêm đó liên tiếp 6 bà cung phi. Kết quả sau đó là 5 bà đều mang thai. Như thế là chỉ trong một đêm nhà vua đã sản xuất ra 5 người con, do đó mới phát sinh câu nói “Nhất dạ lục giao, sinh ngũ tử” Một đêm giao hợp 6 lần, đẻ 5 đứa con. Hoạt động chăn gối về đêm sung mãn như thế mà ban ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt, chứng tỏ vua Minh Mạng là một người có một “thể chất tiên thiên” bẩm sinh cường tráng. Những toa thuốc mà vua dùng chỉ là trợ lực cho đường sinh lý chứ không phải là chủ trị quyết định. Trong đó, hai bài nổi tiếng nhất, được các thầy thuốc dùng chữa bệnh nhiều nhất hiện nay là “nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” một đêm quan hệ 6 lần, sinh 5 con trai và “nhất dạ ngũ giao sinh tứ tử” một đêm quan hệ 5 lần, sinh 4 con trai. Và hiệu nghiệm đầu tiên rất cụ thể đó là về mặt sinh lý, nhà vua đã sinh được 78 hoàng tử và 64 hoàng nữ. Hiệu nghiệm thứ hai đó là về mặt tinh thần, trí tuệ. Bí ẩn của bài thuốc thần dược Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, từ trước năm 1975, trên một số báo chí, sách đông y và y học dân tộc ở miền Nam đã xuất hiện các công bố về toa thuốc Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử. Đến năm 1987, lương y Lê Văn Sơn, với sự trợ giúp của lương y Bùi Văn Nông, thuộc Tổ chẩn trị y học dân tộc - Trạm y tế Tân Đông Hiệp và Tân Bình Thuận An, Sông Bé đã xuất bản ấn phẩm lưu hành nội bộ "Những phương thuốc bổ và trường xuân", trích dịch từ sách "Vạn bệnh hồi xuân". Trong ấn phẩm này có giới thiệu một bài thuốc với tiêu đề Toa rượu bổ của vua Minh Mạng dùng. Theo đó, bài thuốc gồm 22 vị, có hướng dẫn cách ngâm rượu và cách dùng cũng như mô tả 6 công dụng đặc biệt đại bổ khí huyết, tăng cường sinh lực, bồi bổ thần kinh; ngăn ngừa bệnh tật, trị khỏi đau lưng, nhức mỏi và bồi bổ cho sản phụ; người liệt dương uống từ 1-2 tháng có thể có con; người khản tiếng, nói không to, uống thuốc nói được to tiếng; thận yếu lâu, bán thân bất toại, đi đứng không được, uống thuốc rượu này rất tốt; người gần chết, uống vào có thể sống lại 3 ngày nữa; già lão 60 tuổi, uống vào tăng tuổi thọ rất nhiều, đêm ngủ không mộng mị, không bị táo bón.' Từ lâu, các tài liệu đều ghi lại đều cho thấy rằng bài thuốc Minh Mạng được cho còn vượt trội so với bài thuốc tráng dương của Tần Thủy Hoàng bên Trung Hoa. Tuy nhiên phải nhấn mạnh rằng, Minh Mạng thang là một loại thuốc bổ chứ không phải là thang thuốc dâm dược mà nhiều tác giả trước đây đã vô tình hay cố ý đề cập làm cho nhiều người hiểu sai lệch!”, lương y Thích Tuệ Tâm nhận định. Nên đọc Theo Gia đình & Xã hội Có thể bạn quan tâm Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp. Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose. A. ĐẶT VẤN ĐỀ Muốn xây một quốc gia cường thịnh thì người đứng đầu quốc gia phải là người có tài, thông minh biết kết hợp nền văn minh thế giới, học hỏi các nước bè bạn, kế thừa những thành tựu mà tổ tiên đã để lại áp dụng phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của đất nước. Trong lịch sử phong kiến dân tộc ta, có hai cuộc cải cách lớn được lưu danh trong sử sách, đó là cuộc cải cách thành công thống nhất của vua Lê Thánh Tông 1460 – 1497 và cuộc cải cách cũng đầy sáng tạo dưới triều vua Minh Mạng 1820 – 1840. Trong phạm vi bài viết này, nhóm chúng tôi xin đi vào tìm hiểu “những cải cách về Lục bộ của vua Minh Mạng, với tinh thần tìm hiểu một cách rõ nét hơn tiền thân của các Bộ ngành trong bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay và tìm hiểu thêm về vị vua có sự quyết đoán, sáng tạo nổi tiếng của nhất của Triều đại nhà Nguyễn. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Lục bộ hay sáu bộ là thuật ngữ chỉ sáu cơ quan chức năng cao cấp trong chế độ quân chủ gồm có Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, Bộ Lễ. Đứng đầu các bộ là Thượng Thư, giúp việc cho Thượng Thư có những chức quan khác nhau tuỳ theo từng triều đại và dưới cấp bộ là chức ty trực thuộc. Về cơ bản, các Bộ đều là các cơ quan thực thi quyền hành pháp do nhà vua giao trong từng lĩnh vực cụ thể, đồng thời có chức năng tư vấn cho nhà vua trong lĩnh vực mà bộ quản lý. I. Cải cách trong thành phần quan lại trong Lục bộ Năm 1804 khi mới thiết lập Lục bộ, vua Gia Long vẫn theo chế độ phẩm trật danh chức các quan chế thời Lê, do quan đại thần đứng đầu các bộ. Gồm các chức quan sau Thượng Thư, Tham Tri, Thiên Sự, Cai Hợp, Thủ Hợp… Năm 1821, Minh Mạng cho đặt thêm ở các bộ các chức Lang Trung Chủ sự và Tư vụ. Năm 1822, nhà vua bãi bỏ các chức quan Cai Hợp và Thủ Hợp. Những nhân viên trước giữ chức này, nay cho nhập vào ngạch thư lại mới đặt. Năm 1827, ông bãi bỏ các chức Câu Kê và đặt thêm Viên Ngoại Lang. Như vậy, kể từ năm 1827 trở đi, thành phần lãnh đạo và nhân viên các bộ gồm các chức quan sau Thượng Thư, Tham Tri, Thị Lang, Lang Trung, Viện Ngoại Lang, Chủ Sự, Tư Vụ. II. Cải cách chức năng, nhiệm vụ của Lục bộ Để xem xét một cách kĩ nhất về cải cách của vua Minh Mạng thì chúng ta cần xem xét và so sánh với Lục bộ thời vua Lê Thánh Tông. Lục bộ thời vua Minh Mạng Lục bộ thời vua Lê Thánh Tông Bộ lại + Gồm 5 Ty Văn Tuyển, Trung Tự, Phong Điển, Lại Ân, Lại Trực + Chức năng Giúp việc tuyển bổ, thuyên chuyển quan văn, phong tước, tập ấn, phong tặng, giám sát khảo sát niên khoá… + Gồm 2 cơ quan - 1 cơ quan chuyên trách - 1 cơ quan thường trực như cơ quan Lại bộ tư vụ sảnh. Bộ Hộ + Gồm 7 Ty Kinh Trực, Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Thưởng Lộc + Chức năng Cân bằng giá trong việc phát ra và thu vào, điều hoà nguồn của cải nhà nước, phụ trách kho tang lưu thông, đinh tiền thuế kháo, tiền tệ… + Gồm 2 cơ quan chuyên trách Đô tri thanh lại ty, Bản Tịch Thanh Lại Ty và 1 cơ quan thường trực Hộ bộ tư vụ sảnh + Chức năng Quản lý ruộng đất, tài chính, tô thuế, kho tang, hộ khẩu, lương của quan và quân trong cả nước. Bộ Lễ + Gồm Ty Nghi Văn, Ty Nhân Tự, Ty Thừ Ứng, Xứ Lễ Trực + Chức năng Tiếp nhận các tấu sớ, công văn, lễ nghi lễ Gia, lễ Quân, tế tự, phong tặng các thần, cân nhắc hiền tài, ngoại giao + Gồm Nghi Lễ Thành Lại Ty, Lễ Bộ Tư vụ sảnh + Chức năng Phụ trách lễ nghi, tế tư, tiệc tùng, thi cử và học hành, quản lý lễ nghi của quan lại…. Bộ Binh + Gồm Ty Võ Tuyển, Ty Kinh Kỳ, Ty Trực Tỉnh, Ty Khảo Công, Xứ Binh Trực. + Chức năng Bổ nhiệm tuyển dụng các chức võ quan, khảo duyệt khí giới, lương thực để giúp việc chính trị trong nước, tuyển lính…. + Gồm Vũ Khổ Thanh Lại Ty, Qua Vụ Thanh Lại Ty, Binh Bộ Tư Vụ Sảnh. + Chức năng Tuyển lính, huấn luyện quân đội, quân trang vũ khí, trông coi việc trấn giữ biên ải và ứng phó với tình hình khẩn cấp. Bộ Hình + Gồm Ty Kinh Trực Kỳ, Ty Nam Hiến, Ty Bắc Hiến, Xứ Hình Trực. + Chức năng Thảo luận về pháp luật, xét xử tội nặng, phúc thẩm các nghi án, xếp đặt các lao ngục, chế độ tù nhân… + Gồm 4 cơ quan chuyên trách Thanh Hình, Thân Hình, Minh Hình và Thượng Hình Thanh Lại Ty và 1 cơ quan thường trực là Hình Bộ Tư Vụ Sảnh. + Chức năng Thi hành Luật lệnh, hình phạt xét xử, tù ngục.. Bộ Công + Gồm Ty Quy Chế, Ty Danh Thiện, Ty Công Ấn, Xứ Công Trực. + Chức năng Coi giữ thợ thuyền xây dựng thành trì lăng tẩm, đóng tàu thuyền, sửa chữa cung điện, nhà cửa, kho tàng. + Gồm Danh Thừa Thanh Lại Ty, Công Trình Thanh Lại Ty. Không có cơ quan thường trực. + Chức năng Sửa chữa, xây dựng cung điện, đường xá, cầu cống, thành trì, quản lý công xưởng và thợ thuyền trong cả nước. Qua sự so sánh trên, có thể thấy những cải cách của Minh Mạng trong cơ cấu các bộ, chức năng, nhiệm vụ Lục bộ là Không phân thành cơ quan chuyên trách và cơ quan thường trực như triều Lê Thánh Tông mà chia thành nhiều Ty với số lượng lớn. Đó là do dưới triều Minh Mạng đất nước Việt Nam đã phát triển, tiến sâu hơn vào phía Nam, dài và rộng hơn dưới triều vua Lê Thánh Tông và các triều vua khác. Như vậy, công việc của các bộ thời kỳ này cũng nhiều và phức tạp hơn rất nhiều so với các triều đại trước. Bởi vậy, ông đã phân bộ thành nhiều Ty và quy định cho tưng Ty công việc cụ thể, rõ rang và để hạn chế quyền lực tập trung vào tay một số như Thượng Ty hạn chế việc lạm dụng quyền lực và các Ty không bị lấn sang quyền hạn của nhau hay bỏ bê công việc hoặc trong việc xác định ai làm đúng việc và chưa hoàn thành công việc. III. Nhận xét về những cải cách về Lục bộ của vua Minh Mạng Chúng ta đều đánh giá cao cuộc cải cách của vua Minh Mạng, ông đã học tập kinh nghiệm xây dựng Lục bộ dưới thời vua Lê Thánh Tông và triều đại nhà Minh, Thanh trong lịch sử phong kiến Trung Quốc. Đồng thời có sự thay đổi nhằm đề cao vai trò của các bộ phù hợp với yêu cầu của một vùng lãnh thổ rộng lớn và với số dân cư đông đúc, phức tạp. Vì vậy, ở thời kỳ Minh Mạng là lúc triều Nguyễn phát triển mạnh nhất. Những cải cách về Lục bộ của ông được lịch sử đánh giá cao, bộ máy nhà nước như vậy có thể đảm bảo nguyên tắc tập trung quyền lực tối thượng vào tay vua và tăng cường tính thống nhất của một quốc gia với một lãnh thổ từ trước tới nay chưa từng có. Những giá trị tư tưởng của Minh Mạng không những vì cải cách Lục bộ nói riêng và cải cách hành chính nói chung mà còn củng cố nước Việt Nam ổn định và phát triển để có thể đối mặt trước nguy cơ xâm lược của phương Tây và bành trướng lãnh thổ của nước láng giềng Phù Nam. Những cải cách về Lục bộ nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung của Minh Mạng cũng có một số hạn chế nhất định, làm cho đất nước không phát triển được như mong muốn và đủ sức mạnh chống lại các vấn đề bên ngoài, hạn chế đi một phần sức mạnh của nhân dân, chưa tập chung được tinh thần đoàn kết trong nhân dân C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Bằng trí tuệ siêu việt cùng với những nỗ lực không mệt mỏi, vua Minh Mạng đã ghi vào lịch sử Việt Nam dấu ấn về cải cách về hành chính đặc biệt là cải cách Lục bộ. Ông đã kế thừa thành tựu của các triều đại trước để thiết lập một bộ máy nhà nước mới mang tính sáng tạo, trong đó có Lục bộ mà đến nay chúng ta vẫn còn học hỏi Bộ Quốc phòng tương đương với Bộ Binh, Bộ Tài chính về chức năng gần giống Bộ Hộ…. Khi đánh giá về những cải cách của vua Minh Mạng, có ý kiến ngợi khen khâm phục và cũng có ý kiến chê bao khiển trách. Ông đã gần như triệt tiêu mọi tư tưởng cải cách tiến bộ của triều Tây Sơn vua Quang Trung. Nhưng thực sự chúng ta nên có một cái nhìn khái quát lịch sử về cuộc đời và cải cách của Minh Mạng, bởi vậy, nếu xét trên nhiều khía cạnh, Minh Mạng xứng đáng là một vị minh quân hết lòng cho công cuộc xây dựng đất nước. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I. GIÁO TRÌNH 1. Trường Đại học Luật Hà Nội – Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam – Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội – 2007. 2. Khoa Luật đại học Quốc Gia Hà Nội – Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam – Nxb. Đại học Quốc Gia – 2008 II. SÁCH THAM KHẢO 1. Nguyễn Minh Tường – Cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng – Nxb. Khoa học xã hội - 1994 2. Đại Việt sử ký toàn thư - tập 5, 6, 7, 8 – Nxb. Khoa học xã hội – 1993 3. Minh Mạng chính yếu - tập 1, 2, 3 – Nam Hà ấn quán Sài Gòn – 1975. Trang Chủ » Ẩm Thực Kiến Thức Cần Biết – Sự thật về thần dược phòng the của vua Minh Mạng. Giai thoại kể lại rằng, vua Minh Mạng có sức khỏe phục vụ tam cung lục viện, một đêm có thể “chiều” 5 đến 6 cung tần. Vua Minh Mạng không chỉ nổi tiếng ở tài thao lược mà còn vang danh hậu thế nhờ có sức khoẻ hơn người. Đời sống phòng the của nhà vua hết sức đều đặn nhưng hằng ngày nhà vua vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt. Không chỉ có thế, vua thường thức đến tận canh ba để làm việc. Không chỉ có thế, có giai thoại kể lại rằng, vua Minh Mạng có sức khỏe phục vụ tam cung lục viện, một đêm có thể “chiều” 5 đến 6 cung tần. Trong cuốn “Kể chuyện các đời vua nhà Nguyễn” do Nguyễn Viết Kế sưu soạn có viết rằng “Bình nhật, khi nghỉ ngơi, vua có 5 bà vợ hầu hạ Một bà vấn thuốc têm trầu, một bà quạt, một bà đấm bóp, một bà ru và một bà để sai vặt. Mỗi đêm, vua cho thái giám gọi 5 bà vào hầu. Mỗi bà một canh. Hết 5 canh thì danh sách các bà được chuyển giao cho Tôn Nhơn phủ giữ để tiện theo dõi việc khai hoa nở nhụy của các bà sau này”.Minh Mạng có tới 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. Với số lượng phi phần và con cái này, vua Minh Mạng cũng là vị vua có nhiều phi tần và đông con nhất trong số 13 vua triều Nguyễn. Trong đời sống thường nhật, có lẽ vua Minh Mạng là người được hưởng nhiều vui thú nhất trong các vua Nguyễn ở chốn phòng the. Số phi tần trong cung vua chưa rõ bao nhiêu, chắc phải đến năm , sáu trăm người. Sách Minh Mạng chính yếu chép” Năm Minh Mạng thứ sáu, mùa Xuân, tháng giêng, trong Kinh kỳ ít mưa, nhà vua lấy làm lo, chỉ dụ cho quan Thuợng Bảo Khanh là ông Hoàng Quỳnh rằng“Hai ba năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp. Trẫm nghĩ tự đâu mà đến thế nhưng chưa tìm ra nguyên nhân, hoặc là trong thâm cung, cung nữ nhiều âm khí uất tắc mà nên như vậy ư? Nay bớt đi, cho ra 100 người, ngõ hầu có thể giải trừ thiên tai vậy “. Điều đó cho thấy đời sống phòng the của nhà Vua lớn như thế nào. Lời đồn đoán rằng để vua Minh Mạng có một “thể chất tiên thiên”, các ngự y trong triều đã ngày đêm nghiên cứu, bào chế ra những bài thuốc có tính năng tráng dương bổ thận cho thiên tử dùng, gọi là “Minh mạng thang”. Đến nay những bài thuốc này đã thất truyền. Những tài liệu và sử còn ghi lại 2 bài thuốc trên có thành phần và cách uống kèm theo như sau “Nhất dạ ngũ giao” – Thành phần Nhục thung dung 12g, táo nhân 8g, xuyên quy 20g, cốt toái bổ 8g, cam cúc hoa 12g, xuyên ngưu tất 8g, nhị hồng sâm 20g, chích hoàng kỳ 8g, sinh địa 12g, thạch hộc 12g, xuyên khung 12g, xuyên tục đoạn 8g, xuyên đỗ trọng 8g, quảng bì 8g, cam kỷ tử 20g, đảng sâm 10g, thục địa 20g, đan sâm 12g, đại táo 10 quả, đường phèn 300g. Cách ngâm đường phèn để riêng, 19 vị thuốc trên đem ngâm với 3 lít rượu nếp ngon trong 5 ngày đêm. Ngày thứ sáu, nấu nửa lít nước sôi với 300g đường phèn cho tan ra, để nguội, rồi đổ vào chậu, trộn đều, đến ngày thứ 10 thì đem ra dùng. Ngày 3 lần sáng, trưa, tối mỗi lần 1 ly trà. Dùng liên tục. Hai là “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” gồm những thành phần thục địa 40g, đào nhân 20g, sa sâm 20g, bạch truật 12g, vân quy 12g, phòng phong 12g, bạch thược 12g, trần bì 12g, xuyên khung 12g, cam thảo 12g, thục linh 12g, nhục thung dung 12g, tần giao 8g, tục đoạn 8g, mộc qua 8g, kỷ tử 20g, thương truật 8g, độc hoạt 8g, đỗ trọng 8g, đại hồi 4g, nhục quế 4g, cát tâm sâm 20g, cúc hoa 12g, đại táo 10 ngâm 24 vị thuốc trên ngâm với 2,5 lít rượu tốt trong vòng 7 ngày. Lấy 150g đường phèn nấu với một xị nước sôi cho tan, để nguội rồi đổ vào keo rượu thuốc, trộn đều, đến ngày thứ 10 đem dùng dần. Ngày 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ, sáng, trưa, chiều trước bữa ăn. Bã thuốc còn lại ngâm nước hai với 1,5 lít rượu ngon – một tháng sau dùng tiếp. Căn cứ theo đó các nhà y học hiện đại cũng như y học cổ truyền cho rằng, không phải nhờ 2 bài thuốc này mà hoàng đế Minh Mạng có sức lực phi thường để một đêm có thể ân ái tới 6 cung phi và kết quả sinh được 5 hoàng tử, công chúa đấy chỉ là câu chuyện thêu các nghiên cứu khoa học cũng như tinh dược của các vị thuốc trong 2 bài thuốc nhất dạ ngũ giao và nhất dạ lục giao sinh ngũ tử chỉ là những vị thuốc bổ có tác dụng làm ăn ngon, ngủ yên, mạnh gân cốt, bổ thận tráng dương mà thôi. Những toa thuốc vua dùng chỉ mang tính trợ lực, chứ không phải đóng vai trò chủ trì quyết định. Bởi nếu bài thuốc này mà hữu hiệu đến vậy thì vua Tự Đức, cháu nội của vua Minh Mạng đã sử dụng để không bị bất lực và không có con. Mặc dù vậy, hiện nay, huyền thoại bài thuốc “tăng cường sinh lý, như ý phòng the” của “Minh Mạng thang” luôn có sức hút lớn đối với những người đàn ông muốn tăng cường thể lực trong đời sống vợ chồng mình. Tuy nhiên, để không bị những ảnh hưởng xấu, lời khuyên cho các đấng mày râu là nên tìm hiểu kĩ và hiểu rằng đó chỉ là thang thuốc bổ trợ sức khỏe, tăng cường khí huyết chứ không phải thần dược chốn phòng the. Theo Hội Tiết niệu Thận học – Thừa Thiên Huế Xem nhiều video hay tại kênh youtube KIẾN THỨC CẦN BIẾT Kết nối trang facebook Kiến Thức Cần Biết Xem các bài viết các chuyên mục khác Kiến thức cần biết về Sức KhỏeKiến thức cần biết về Du LịchKiến thức cần biết về Công Nghệ Giới Thiệu Về Tác Giả Kiến Thức Cần Biết Giúp người cũng có nghĩa là ta đang giúp mình, bởi mọi điều tốt đẹp ta trao tặng cho người, đều sẽ đi theo một vòng tròn mà trở lại với ta.

chuyen phong the cua vua minh mang