Những làn điệu ca Huế đầy ngọt ngào và sâu thẳm được cất lên trên dòng nước bồng bềnh trôi chậm khiến những du khách hay người dân yêu Huế càng nghe càng muốn thẩm thấu được trọn vẹn cái tình của Huế nằm ẩn sâu trong loại hình nghệ thuật vô cùng đặc sắc này.
Nhận định của họa sĩ Lê Thiết Cương trong talkshow 'Tôi gìn giữ vẻ đẹp' diễn ra tối 17/8 tại L'espace đã nhận được sự đồng cảm của nhiều người. đó là mục đích mà Hội thảo Thuật lãnh đạo thiền-Nghệ Thuật Cân Bằng Để Thành Công dành cho các doanh nhân
Thiền sư nhập định (tranh Thạch Khác, thế kỷ X) Thiền họa không phải là chụp hình, mô phỏng hay sao chép một thực thể. Một nét chấm hay một đường cong không tượng trưng cho con chim hay ngọn núi, mà nét chấm đó chính là con chim, đường cong đó chính là ngọn núi, bởi vì thiền họa phải là sáng tạo.
Cổ Trang - Thần Thoại. Võ Thuật - Kiếm Hiệp. Tập 16 Vietsub. Bạn Trai Phản Diện Của Tôi. Full 40/40 Vietsub+TM. Phi Hồ Ngoại Truyện. Thiếu Gia Xã Hội Đen Yêu Tôi 2022. Phim sắp chiếu. Định Luật 80/20 Của Tình Yêu.
NGHỆ THUẬT THIỀN TRÀ, Sản Phẩm Trà Đạo. Cam kết sản phẩm đẹp đúng chất lượng, đảm bảo uy tín. Chính sách đổi trả linh hoạt trong vòng 7 ngày kể từ ngày mua. Phương thức thanh toán đa dạng: tiền mặt, chuyển khoản và chấp nhận các loại thẻ ngân hàng. Giao hàng nhanh
Trang website chuyên tường thuật trực tiếp các giải bóng đá đang và sắp diễn ra. Do đó việc chi trả một khoản định kỳ để xem bóng đá là "phí". Hiểu được điều đó, Xoilac.mobi đã ra đời. Xoilac.mobi vẫn đang trên con đường hoàn thiện và phát triển mỗi ngày. Bạn chỉ cần nhập tên cầu thủ, đội bóng/ CLB hoặc trận đấu. Hệ thống sẽ tự động lọc tất cả các chủ đề liên quan, từ đó giúp người chơi dễ
sdoFR. Không-làm là Thiền, nhưng khi tôi nói không-làm là Thiền, tôi không có ý nói rằng bạn không cần phải làm bất cứ điều gì. Thậm chí để đạt được sự không-làm này, bạn phải làm rất nhiều. Nhưng sự “làm” này không phải là Thiền. Nó chỉ là một bước đệm, chỉ là một bục nhảy. Tất cả những cái “làm” chỉ là một bục nhảy, không phải là ngộ không có những cấp độ. Một khi nó xuất hiện thì nó có đó. Nó giống như cú nhảy vào đại dương cảm xúc. Bạn nhảy, bạn trở thành một với nó, giống như giọt nước rơi vào đại dương và trở thành một với đại dương. Nhưng điều đó không có nghĩa là bạn đã biết toàn bộ đại lần đầu tiên Maulingaputta đến với Đức Phật, ông ấy đã hỏi nhiều câu hỏi. Đức Phật nói “Ông đang hỏi để làm sáng tỏ các câu hỏi, hay ông đang hỏi chỉ để tìm những câu trả lời?”.Maulingaputta nói “Tôi đến để hỏi Thầy, và Thầy lại bắt đầu hỏi tôi! Hãy để tôi cân nhắc về chuyện đó, tôi phải suy nghĩ về nó”. Ông ấy đã nghĩ về chuyện đó và ngày thứ hai ông nói “Thực ra tôi đến là để làm sáng tỏ chúng”. Đức Phật nói với ông ấy “Ông cũng đã hỏi người khác những câu hỏi này?”.Mailingaputta nói “Tôi đã liên tục hỏi mọi người suốt 30 năm”.Đức Phật nói “Với việc hỏi trong 30 năm, chắc ông phải có nhiều câu trả lời - rất nhiều. Nhưng đã có câu trả lời nào chứng tỏ là câu trả lời chưa?”. Maulingaputta nói “Chưa!”.Thấy thế Đức Phật nói “Tôi sẽ không đưa ra cho ông câu trả lời nào. Trong 30 năm liên tục hỏi, nhiều câu trả lời đã được đưa ra; tôi có thể thêm một vài câu trả lời nhưng điều đó sẽ không ích gì. Cho nên tôi sẽ trao cho ông giải pháp chứ không phải là câu trả lời”.Maulingaputta nói “Tốt thôi, hãy trao nó cho tôi”.Nhưng Đức Phật nói “Tôi không thể trao nó; nó phải phát triển trong ông. Cho nên hãy giữ im lặng với tôi trong vòng một năm. Không được phép hỏi một câu hỏi nào. Hãy tuyệt đối im lặng, hãy cùng ở với tôi, và sau một năm ông có thể hỏi. Khi đó tôi sẽ trao cho ông câu trả lời”. Mục lục Chương 1 Thiền Nghệ thuật của Lễ hộiChương 2 Yoga Sự phát triển của tâm thức Chương 3 Không-làm thông qua làmChương 4 Thiền “Hỗn loạn”Chương 5 Thiền Động hay Thiền TĩnhChương 6 Đi sâu vào cái đã biếtChương 7 Kundalini Sự trỗi dậy của sinh lực Chương 8 Chứng ngộ Một sự khởi đầu vĩnh viễn Chương 9 Sự khai tâm đối với bậc thầy Kỹ thuật tối thượngChương 10 Sannyas Sự đoạn tuyệt với quá khứ Chương 11 Ham muốn tột cùng Con đường đến phi ham muốnChương 12 Linh hồn là gì?Chương 13 LSD và ThiềnChương 14 Khả năng trực giác Điều không thể giải thíchChương 15 Tâm thức, Chứng kiến, Nhận biết Chương 16 Sự khác nhau giữa Satori và Samadhi Chương 17 Năng lượng dục Sự thức tỉnh của Kundalini Chương 18 Sự biểu lộ của Prana ở 7 thểChương 19 Các kỹ thuật truyền thống• 21 ngày thử nghiệm trong im lặng và ẩn dật • Nhìn gương• Lặp lại câu mật chú• Một kỹ thuật về sự tưởng tượng• Chết một cách có ý thức• Đi vào giấc ngủ một cách có ý thức• Giao tiếp với tồn tại trong im lặngGiá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Bên cạnh đó, tuỳ vào loại sản phẩm, hình thức và địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, thuế nhập khẩu đối với đơn hàng giao từ nước ngoài có giá trị trên 1 triệu đồng.....
Thiền - Nghệ Thuật Của Nhập Định sách miễn phí Thiền - Nghệ Thuật Của Nhập Định sách miễn phí phiên bản mới Thông tin tác giảOsho- Tên thật là Chandra Mohan Jain, sinh ngày 11/12/1931, tại bang Madhya Pradesh, Ấn Độ- 1951 Học Đại học Hatkirini và sau đó là Đại học Jain tại Jabalpur- 21-13-1953 Chứng ngộ- 1955 Tốt nghiệp khoa Triết, Đại học Jain và lấy bằng Triết tại Đại học Sagar năm 1957- 1958 Giảng ...Vào trang riêng của tác giảXem tất cả các sách của tác giả“Thiền có nghĩa là nhận biết. Bất kỳ điều gì bạn làm với nhận biết thì đó là thiền. Không phải là hành động mà phẩm chất của bạn mang vào hành động đó mới là vấn đề. Đi bộ có thể là thiền nếu bạn bước một cách nhận biết. Ngồi có thể là thiền nếu bạn ngồi với nhận biết. Nghe chim hót có thể là thiền nếu bạn nghe với nhận biết. Nghe tiếng ồn bên trong tâm trí bạn có thể là thiền nếu bạn giữ nguyên nhận biết và tỉnh táo. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ con người không nên hướng vào mơ ngủ. Thế thì bất kỳ điều gì bạn làm cũng là thiền. Lời thầy hàm chứa cái yên lặng quanh đó, lời thầy không phải là tiếng động. Lời thầy có giai điệu, có nhịp điệu, có âm nhạc và cốt lõi chính của lời thầy là sự yên lặng hoàn toàn. Nếu bạn có thể hiểu thấu lời thầy thì bạn sẽ đi xuyên vào cái yên lặng vô hạn này. Nhưng để thấy hiểu lời của Phật thì cách thức không phải là phân tích, cách thức không phải là biện luận, cách thức không phải là tranh luận. Cách thức là chìm vào quan hệ với thầy, trở thành hòa hợp với thầy, đồng bộ với thầy. Trong sự hòa hợp đó, trong sự chuộc lỗi đó, người ta đi vào trong chính cốt lõi lời thầy. Và ở đó bạn sẽ không tìm thấy bất kì âm thanh nào. Và việc nếm trải nó là việc hiểu thầy. “ OSHO “Những người chứng ngộ như Osho là những người vượt lên thời đại của mình. Bây giờ rất nhiều người trẻ tuổi đang đọc những tác phẩm này của ông, đây là điều rất đáng mừng. Cựu tổng thống Ấn Độ Mời bạn đón đọc.
Chương 1. Thiền định Nghệ thuật của lễ hội Tập trung chú ý là sự lựa chọn tự nguyện. Điều đó loại trừ tất cả đối tượng bên ngoài của sự tập trung; đó là sự thu hẹp. Nếu bạn đang bước trên đường phố, bạn sẽ phải thu hẹp ý thức của bạn trong khi bước đi. Bạn không thể nhận biết được tất cả những gì đang xảy ra, bởi vì nếu bạn nhận biết mọi thứ đang xảy ra bạn sẽ trở nên mất tập trung. Do vậy sự tập trung là cần thiết. Sự tập trung tâm trí là cần thiết để sống - để sống sót và để tồn tại. Đó là lí do tại sao mọi nền văn hóa, bằng mọi cách có thể, nhằm giới hạn tâm trí của trẻ nhỏ. Đặc tính của trẻ nhỏ là không tập trung; ý thức của chúng mở rộng về mọi hướng. Mọi điều đều có thể được tiếp nhận mà không có ngoại lệ nào. Trẻ nhỏ cởi mở với mọi cảm giác; mọi cảm giác đều trong ý thức của chúng. Rất nhiều điều được tiếp nhận! Chính vì vậy, trẻ nhỏ rất mong manh, chập chờn không ổn định. Tâm trí bản năng của trẻ nhỏ là dòng chảy - dòng chảy của các cảm giác - nhưng chúng sẽ hông thể tồn tại được với kiểu tâm trí như vậy. Chúng phải học cách làm thế nào giới hạn tâm trí của chúng lại để có thể tập trung hơn. Ở thời điểm bạn giới hạn tâm trí, bạn trở nên đặc biệt ý thức về một điều gì đó, và đồng thời trở nên mất ý thức về nhiều vấn đề khác. Tâm trí càng thu hẹp thì thành công sẽ nhiều hơn. Bạn sẽ trở thành chuyên gia, bạn sẽ trở nên lão luyện, nhưng toàn bộ vấn đề là sẽ có nhiều hiểu biết hơn về những điều ít ý nghĩa hơn. Thu hẹp là sự cần thiết hiển nhiên; không ai chịu trách nhiệm về vấn đề đó. Để tồn tại, đó là điều cần thiết, nhưng như thế là chưa đủ. Thu hẹp tâm trí là vị lợi, nhưng chỉ để tiếp tục tồn tại thì điều đó là chưa đủ; chỉ vì vị lợi điều đó cũng chưa đủ. Cho nên khi bạn trở nên vị lợi, ý thức sẽ bị thu hẹp, bạn từ chối khả năng trí não của bạn. Bạn không sử dụng toàn bộ trí não; bạn chỉ sử dụng một phần nhỏ của nó. Và phần còn lại - phần chính nhất - sẽ trở thành vô thức. Thực tế không có ranh giới giữa ý thức và vô thức. Không có hai tâm trí. "Tâm trí tỉnh táo" có nghĩa là một phần của tâm trí đã được sử dụng trong một quá trình giới hạn. "Tâm trí vô thức" có nghĩa là phần còn lại bị sao lãng, bị bỏ quên, bị khép lại. Điều này tạo ra sự chia, sự tách biệt. Phần lớn hơn trong tâm trí của bạn sẽ trở nên xa lạ với bạn. Bạn trở nên xa lạ với chính bản thân mình; bạn trở thành người xa lạ đối với toàn bộ con người mình. Phần nhỏ hơn được nhận diện như là chính bạn và phần còn lại đã biến mất. Nhưng phần vô thức còn lại luôn có đó như là tiềm năng chưa được sử dụng, như là sự thử thách thay đổi lối sống. Tâm trí vô thức - đó là tiềm năng, tâm trí chưa được sử dụng này sẽ luôn tranh đấu với tâm trí tỉnh táo; đó là lí do tại sao luôn có xung đột bên trong. Con người luôn trong tình trạng mâu thuẫn vì sự phân chia giữa ý thức và vô thức. Nhưng chỉ bởi tiềm năng đó mà vô thức đã dẫn đến sự nở hoa trong bạn, bạn sẽ cảm nhận được niềm vui sướng của tồn tại. Nếu không bạn sẽ không nhận được gì. Nếu như phần cốt yếu trong tiềm năng của bạn chưa được mãn nguyện thì cuộc sống của bạn sẽ trở nên buồn chán. Chính vì vậy mà những người vị lợi là những người ít hoàn thiện hơn, ít phúc lạc hơn. Đối với những người quá vị lợi trong cách tiếp cận cuộc sống, tiếp cận công việc, lối sống của họ nghèo nàn hơn, ít sự kính trọng hơn. Phần tâm trí không thể biến thành hữu ích cho những người vị lợi đã bị từ chối. Lối sống vị lợi là cần thiết nhưng cái giá phải trả cũng quá đắt bạn đã đánh mất tính lễ hội của cuộc đời. Cuộc sống trở nên hoan hỉ, trở thành lễ hội nếu như tất cả tiềm năng của bạn nở hoa để rồi cuộc sống sẽ là lễ hội hoan hỉ. Chính vì vậy mà tôi luôn nói rằng tôn giáo có nghĩa là sự biến đổi cuộc sống thành lễ hội. Tầm cỡ của tôn giáo chính là tầm cỡ của lễ hội, của không vị lợi. Tâm trí vị lợi không được coi là toàn bộ. Phần còn lại, phần lớn hơn – toàn bộ tâm trí - không nên hy sinh vì phần tâm trí vị lợi. Tâm trí vị lợi không phải là mục đích. Nó sẽ có đó như là phương tiện. Còn phần khác, phần còn lại. phần lớn hơn, phần tiềm năng – phải trở thành mục đích. Đó là những gì tôi muốn đề cập bằng cách tiếp cận mộ đạo. Với cách tiếp cận phi tôn giáo thì tâm trí thực dụng, tâm trí vị lợi sẽ trở thành mục tiêu. Khi nó trở thành mục tiêu, phần vô thức sẽ không có khả năng biến tiềm năng thành hiện thực; phần vô thức sẽ bị từ chối. Nếu phần vị lợi là mục đích thì điều đó có nghĩa, người làm thuê sẽ đóng vai trò của người chủ. Tính khôn ngoan, việc giới hạn tâm trí là phương tiện để sống sót, để tồn tại chứ không phải để sống. Sống sót, tồn tại không phải là sống. Sự tồn tại là cần thiết – tiếp tục sống trong thế giới vật chất là cần thiết – nhưng mục đích sống phải luôn dẫn đến sự nở hoa của tiềm năng, điều đó tùy thuộc vào bạn. Nếu bạn được hoàn thiện một cách tuyệt hảo, nếu không có gì được giữ lại bên trong ở dạng hạt mầm, nếu mọi thứ trở thành thực tại, nếu bạn đang nở hoa, thế thì bạn có thể cảm nhận được niềm hạnh phúc, sự nhập định của cuộc đời. Phần phủ nhận trong bạn, phần vô thức trong bạn, có thể trở nên sống động, trở nên sáng tạo chỉ khi bạn bổ sung diện mạo mới cho cuộc sống của bạn – diện mạo của lễ hội, diện mạo của cuộc chơi vui vẻ. Do vậy, thiền không phải là công việc, nó là cuộc chơi. Cầu nguyện không phải là công việc mà là cuộc chơi. Thiền không phải là một cái gì đó được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu an bình, hạnh phúc – mà nó là một cái gì đó vui thú như chính mục đích của nó. Tầm cỡ lễ hội là một cái gì đó quan trọng nhất phải được hiểu – và chúng ta đã đánh mất nó hoàn toàn. Thông qua lễ hội, tôi muốn đề cập đến khả năng để vui chơi, hưởng thụ, từ thời điểm đến thời điểm, tất cả điều đó sẽ xuất hiện trong bạn. Chúng ta trở nên quá điều kiện, và các thói quen trở thành máy móc, thậm chí khi không có công việc nào được thực hiện, tâm trí của chúng ta là thực dụng. Khi sự giới hạn không cần đến thì bạn lại bị giới hạn. Thậm chí khi bạn đang chơi, thực ra bạn không chơi, bạn không thích thú. Khi bạn đang chơi bài, bạn không thích thú về điều đó. Bạn chơi để giành phần thắng và cuộc chơi trở thành công việc; do vậy những gì đang diễn ra là không quan trọng mà kết quả mới là quan trọng. Trong công việc, kết quả là quan trọng, còn đối với lễ hội, hành vi hoạt động là quan trọng. Nếu bạn có thể tạo ra bất kỳ hoạt động ý nghĩa nào thì bạn sẽ trở thành lễ hội, và bạn có thể vui mừng về điều đó. Bất kỳ khi nào bạn ở trong lễ hội, sự giới hạn sẽ bị phá vỡ. Sự giới hạn là không cần thiết, chúng phải bị quẳng đi. Bạn thoát ra khỏi sự kìm hãm, sự hạn chế của bạn, đó là sự giới hạn của tập trung chú ý. Bây giờ bạn không lựa chọn; bạn cho phép mọi thứ có thể xuất hiện. Và ở thời điểm bạn cho phép toàn bộ tồn tại thì bạn sẽ trở thành một với nó. Đó là sự đồng cảm. Đồng cảm – hoạt động lễ hội, sự nhận biết không lựa chọn, thái độ không thực dụng – tôi gọi là thiền định. Lễ hội là thời điểm, là hành động, nó không phải là sự băn khoăn về kết quả, nó không phải là sự đạt được một cái gì đó. Không có gì để đạt được, do vậy bạn có thể vui mừng hưởng thụ những gì đang hiện có nơi đây. Bạn có thể giải thích như thế này tôi đang nói chuyện với bạn; nếu tôi lo lắng về kết quả, vậy thì cuộc nói chuyện sẽ trở thành công việc. Nhưng khi tôi nói chuyện với bạn mà không có mong đợi nào, không có một ước mong nào về kết quả, lúc đó cuộc nói chuyện trở thành cuộc chơi. Động thái chính trong bản thân nó đã kết thúc, và rồi sự giới hạn là không cần thiết. Tôi có thể chơi với từ ngữ, tôi có thể chơi với ý nghĩ. Tôi có thể chơi với câu hỏi của bạn, tôi có thể chơi với câu trả lời của tôi; điều đó là không quan trọng, đó là sự vui vẻ, thư thái. Nếu bạn đang lắng nghe tôi mà không suy nghĩ về việc lấy được một cái gì đó, vậy thì bạn đang thư giãn; bạn có thể cho phép tôi trong mối đồng cảm với bạn, và sự thức tỉnh của bạn sẽ không bị giới hạn. Nó sẽ là cởi mở - rong chơi và hưởng thụ. Bất kỳ thời điểm nào cũng có thể là thời điểm của công việc, bất kỳ thời điểm nào cũng có thể là thời điểm của thiền; sự khác nhau là ở thái độ. Nếu nó không phải là sự lựa chọn, nếu bạn chơi với nó, vậy thì nó là thiền. Có những nhu cầu xã hội và cũng có những nhu cầu của tồn tại, cả hai đều phải được thực hiện. Tôi sẽ không nói, “không được đặt điều kiện cho trẻ nhỏ”. Nếu bạn để cho chúng hoàn toàn bản năng, chúng sẽ thở thành man rợ. Chúng sẽ không có khả năng để tồn tại. Sự tồn tại cần có điều kiện nhưng đó không phải là mục tiêu, cho nên bạn phải có khả năng mang nó vào hoặc bỏ nó ra như là mặc quần áo. Bạn có thể mặc nó để đi làm, sau đó cởi nó ra khi về đến nhà. Lúc đó bạn chính là bạn. Nếu bạn không được nhận ra với quần áo của bạn, với trạng thái của bạn, nếu bạn không nói, ví dụ như, “Tôi là tâm trí của tôi,” điều đó không khó; bạn có thể thay đổi một cách dễ dàng. Nhưng nếu bạn được nhận ra với trạng thái của mình. Bạn nói, “Trạng thái của tôi chính là tôi,” và tất cả điều đó không phải là trạng thái bị từ chối của bạn. Bạn nghĩ, “Tất cả những gì không có điều kiện không phải là tôi, sự vô thức không phải là tôi; tôi là người tỉnh táo, là người tập trung tâm trí”. Sự nhận dạng này là nguy hiểm, không nên như vậy. Sự giáo dục phù hợp là không có điều kiện, nhưng nó đã bị quy định bởi nhu cầu vị lợi; bạn phải có khả năng mang nó vào và bỏ nó đi. Khi cần, bạn mang nó vào, và khi bạn không cần bạn có thể quẳng đi. Cho đến khi con người được giáo dục sao cho họ không được nhận ra với những điều kiện của họ, thế thì con người không thực sự là con người tự nhiên. Họ là những người máy – những con người bị quy định, bị giới hạn. Hiểu điều này là trở nên nhận biết một phần của tâm trí, phần lớn hơn, phần đã từ chối ánh sáng. Và để biết điều đó bạn phải trở nên nhận biết rằng bạn không phải là tâm trí tỉnh táo. Tâm trí tỉnh táo chỉ là một phần. “Ta” là cả hai, và phần lớn hơn là bản năng. Và nó luôn có đó, nó đang chờ đợi. Định nghĩa của tôi về thiền là như vậy, nó đơn giản là nỗ lực để nhảy vào vô thức. Bạn không thể nhảy bằng việc tính toán, bởi vì toàn bộ việc tính toán là của sự tỉnh táo và tâm trí tỉnh táo không cho phép điều đó. Nó sẽ cảnh báo “Bạn sẽ trở thành kẻ điên. Không được làm điều đó.” Tâm trí tỉnh táo luôn sợ vô thức bởi vì nếu vô thức nổi lên thì tất cả mọi yên lặng và trong sáng của tỉnh táo sẽ bị cuốn đi. Thế rồi mọi thứ sẽ trở nên đen tối như trong rừng rậm. Giống như là thế này bạn làm một khu vườn có hàng rào bao quanh. Một khu đất rất nhỏ được làm sạch, bạn trồng lên đó những cây hoa và mọi thứ đều rất đẹp – ngăn nắp, sạch sẽ. Chỉ có điều, cánh rừng ở ngay bên cạnh. Nó phát triển phóng túng, không kiểm soát, và khu vườn luôn sợ nó. Ở bất kỳ thời điểm nào cánh rừng cũng có thể xâm chiếm và rồi khu vườn sẽ dần biến mất. Cũng tương tự như vậy, bạn đã gieo trồng một phần tâm trí bạn. Bạn đã làm cho mọi thứ rõ ràng. Nhưng sự vô thức vẫn luôn quanh bạn, và tâm trí tỉnh táo luôn sợ hãi điều đó. Tâm trí tỉnh táo nói, “Không vào vô thức. Không nhìn nó. Không suy nghĩ về nó.” Con đường dẫn của vô thức là tối tăm và không được biết đến. Để suy luận, nó có vẻ phi lý, phi logic. Cho nên, nếu bạn suy ngẫm để vào thiền thì bạn sẽ không bao giờ đạt được, bởi vì suy ngẫm không cho phép bạn làm điều đó. Điều đó trở thành mâu thuẫn. Bạn không thể làm việc gì mà không suy nghĩ, và với sự suy nghĩ bạn không thể vào thiền. Làm thế nào đây? Thậm chí nếu bạn nghĩ, “Tôi sẽ không nghĩ,” thì điều này cũng là suy nghĩ. Đó là một phần suy nghĩ của tâm trí đang nói, “Tôi không cho phép nghĩ.” Thiền không thể thực hiện bởi nghĩ; đây là mâu thuẫn – mâu thuẫn lớn nhất. Những người tìm kiếm sẽ phải đối mặt với mâu thuẫn này; ở một nơi nào đó, vào một thời điểm nào đó, mâu thuẫn sẽ xuất hiện. Nhưng người hiểu được điều này sẽ nói, “Hãy nhảy! Không nghĩ!”, nhưng bạn không thể làm việc mà không suy nghĩ. Chính vì vậy mà những phương tiện không cần thiết đã được sáng tạo ra – Tôi nói những phương tiện không cần thiết, bởi nếu bạn nhảy không cần nghĩ thì phương tiện sẽ không cần đến. Nhưng bạn không thể nhảy mà không cần nghĩ, cho nên phương tiện là cần thiết. Bạn có thể nghĩ về phương tiện, tâm trí nghĩ của bạn có thể thoải mái về phương tiện, nhưng không phải với thiền. Thiền có thể nhảy vào những vùng chưa biết. Bạn có thể làm việc với phương tiện, và phương tiện sẽ tự động đưa bạn vào vùng chưa biết. Phương tiện cần đến chỉ bởi sự huấn luyện của tâm trí; nếu không thì sẽ không cần đến. Đã có lần nào đó khi bạn nhảy, bạn sẽ nói, “Phương tiện là không cần thiết, không cần dùng đến nó”. Nhưng đây là quá khứ; về sau này bạn sẽ biết rằng phương tiện đã không được dùng đến. Đó là những gì mà Krishnamurti nói “Không có phương tiện nào là cần đến đó là phi nỗ lực”. Nhưng điều này là vô lý với những người chưa vượt qua được ràn cản. Và đây chính là cuộc nói chuyện với những người chưa vượt qua rào cản. Cho nên tôi nói rằng phương tiện là nhân tạo. Đó chỉ là mánh lới để làm cho tâm trí lý trí của bạn được thư giãn, để rồi bạn bị đầy vào vùng chưa biết. Đó là lý do tại sao tôi dùng những phương pháp mạnh mẽ đầy sinh lực. Phương pháp càng mạnh mẽ thì tâm trí tính toán của bạn càng ít cần hơn. Phương pháp càng mạnh mẽ thì càng trở nên toàn bộ hơn, bởi vì sức sống không chỉ của tâm trí mà còn là của cơ thể, của những xúc cảm. Nó tràn đầy thực tại bạn. Một số tu sĩ đã sử dụng khiêu vũ như là kỹ thuật, như là phương tiện. Nếu bạn khiêu vũ bạn sẽ không còn giữ được vẻ tao nhã, bởi vì khiêu vũ là một hiện tượng đầy gian khổ; nó đòi hỏi toàn bộ bản thể bạn. Và đến một thời điểm nào đó, khiêu vũ sẽ trở thành không cần động não. Càng sinh động càng mạnh mẽ, sự hiện diện của bạn càng nhiều thì sự hiện hữu của lý trí càng ít đi. Cho nên khiêu vũ được nghĩ ra như là một kỹ thuật để vào thiền. Ở một vài thời điểm bạn không thể khiêu vũ, nhưng vũ điệu vẫn cứ diễn ra, bạn sẽ bị cuốn đi xa đến suối nguồn chưa được biết đến. Các bậc thầy của trường phái thiền Nhật Bản dùng phương pháp koan các tu sĩ từ bỏ lý lẽ và sử dụng trực giác để đạt đến thông tuệ. Koan công án là những trò chơi mà bản chất của chúng là ngớ ngẩn. Chúng không thể bị loại bỏ bởi lý lẽ; bạn không thể suy xét về chúng. Có vẻ như là một cái gì đó ngớ ngẩn. Chúng không thể bị loại bỏ bởi lý lẽ; bạn không thể suy xét về chúng. Có vẻ như là một cái gì đó có thể được nghĩ đến, nó như là một sự nắm bắt. Có vẻ như có một điều gì đó được tưởng tượng về koan, cho nên bạn bắt đầu suy ngẫm. Tâm trí lý trí của bạn được thư giãn; một cái gì đó được tạo ra cho nó đã bị loại bỏ. Nhưng có một điều gì đó khác được gán cho nó không thể bị loại bỏ. Bản chất quan trọng nhất không thể bị loại bỏ, bởi vì thực chất trò chơi đó là gian trá, là ngớ ngẩn. Có hàng trăm trò chơi. Các bậc thầy sẽ nói, “Hãy suy ngẫm về âm thanh của sự im lặng”. Bằng lời nói, điều đó có vẻ như được nghĩ đến. Nếu bạn cố gắng, bằng cách này hay bằng cách khác, ở đâu đó âm thanh của sự im lặng sẽ xuất hiện; có thể là như vậy. Và rồi, ở một thời điểm chắc chắn nào đó – thời điểm không thể dự báo trước, với mọi người điều này là không như nhau – tâm trí hoàn toàn biến mất. Bạn có đó, nhưng tâm trí đã hoàn toàn biến mất. Lúc đó bạn như một đứa trẻ. Điều kiện không có đó, bạn là người tỉnh táo; sự tập trung giới trong hạn không có đó. Lúc đó bạn nhận ra rằng phương tiện là không cần thiết – nhưng đây là suy nghĩ sau hành động, nó không được đề cập sớm hơn. Không có phương pháp nào được coi là nguyên nhân; không có phương pháp nào tạo ra thiền. Đó là lý do tại sao có rất nhiều phương pháp. Mọi phương pháp chỉ là phương tiện, nhưng các tôn giáo lại cho rằng phương pháp của họ là con đường riêng mà không phương pháp nào khác sẽ thực hiện được. Tất cả họ đều nghĩ về thuật ngữ của luật nhân quả. Nước đun nóng sẽ bốc hơi. Nhiệt là nguyên nhân Không có nhiệt, nước không thể bốc hơi. Đây là nguyên nhân. Nhiệt là cần thiết để thúc đẩy quá trình bốc hơi. Nhưng thiền không phải là nguyên nhân, cho nên bất kỳ phương pháp nào cũng có thể chấp nhận được. Mọi phương pháp đều chỉ là phương tiện; nó chỉ tạo ra hoàn cảnh để thiền xuất hiện; nó không phải là nguyên nhân. Ví dụ, bên ngoài phòng này là không gian rộng lớn. Bạn chưa bao giờ nhìn thấy nó. Tôi có thể nói với bạn về bầu trời, về sự mát mẻ, về biển, về tất cả những gì bên ngoài căn phòng này, nhưng bạn chưa bao giờ nhìn thấy. Bạn không biết về nó. Bạn chỉ cười; bạn cho rằng tôi đang đùa. Bạn nói, “Tất cả điều đó là kỳ quái. Thầy là người mơ mộng”. Tôi không thể thuyết phục bạn đi ra ngoài, bởi vì tất cả những gì tôi nói đều vô nghĩa với bạn. Sau đó tôi nói, “Căn nhà đang cháy!” Điều này gây cho bạn sự chú ý; điều này thì bạn có thể hiểu. Bấy giờ tôi không phải nói với bạn bất kỳ sự giải thích nào. Bạn chỉ bỏ chạy; bạn theo tôi. Ngôi nhà không bị cháy, nhưng vào thời điểm bạn đang ở ngoài ngôi nhà, bạn không hỏi tại sao tôi nói dối. Ý nghĩa có đó; bầu trời còn đó. Bây giờ bạn cám ơn tôi về điều nói dối. Nói dối chỉ là phương tiện; nó chỉ là phương tiện để bạn ra ngoài. Nó không tạo ra sự tồn tại của không gian bên ngoài. Mọi tôn giáo đều dựa trên phương tiện dẫn dụ. Tất cả các phương pháp đều là giả tưởng; chúng chỉ tạo ra hoàn cảnh, chúng không phải là nguyên nhân. Những phương tiện mới có thể được tạo ra. Những phương tiện cũ trở nên vô vị, những giả tưởng cũ cũng trở nên nhạt nhẽo, do vậy những cái mới cần phải được tạo ra. Bạn đã nhiều lần được thông báo rằng ngôi nhà bị cháy nhưng thực tế không phải như vậy, thế rồi lời dẫn dụ đã trở nên vô dụng. Bây giờ một người nào đó phải tạo ra phương tiện mới. Nếu một cái gì đó là nguyên nhân của một cái gì đó khác, điều đó không bao giờ là vô dụng. Phương tiện cũ luôn vô dụng, phương tiện mới là cần thiết. Chính vì vậy mà những nhà tiên tri mới sẽ phải đấu tranh với những nhà tiên tri cũ. Họ sẽ vẫn phải làm những công việc mà họ đang làm, nhưng họ sẽ phải chống lại những thuyết giảng của người cũ, bởi vì họ sẽ phải từ chối những phương tiện cũ đã trở nên nhạt nhòa và vô nghĩa. Tất cả những con người vĩ đại – Đức Phật, Thánh Christ, Mahavira đã vượt ra ngoài lòng trắc ẩn, họ đã tạo ra những dẫn dụ vĩ đại chỉ để đẩy bạn ta khỏi căn nhà của bạn. Nếu bạn có thể đẩy tâm trí bạn ra ngoài thông qua bất kỳ phương tiện nào thì đó là tất cả những gì cần đến. Tâm trí của bạn là ngục tù, là chết chóc; nó là nô lệ. Như tôi đã từng nói, mâu thuẫn này buộc phải xảy, đó là lẽ tự nhiên của cuộc sống. Bạn phải học cách làm hẹp tâm trí bạn. Sự làm hẹp này sẽ là hữu ích khi bạn hướng ra ngoài, nhưng sẽ là sự tê liệt ở bên trong. Đó sẽ là vị lợi với những người khác; đó là sự tự sát với chính họ. Bạn phải tồn tại với đồng loại và với chính bạn. Bất kỳ cuộc sống một chiều nào cũng đều là què quặt, khập khiễng. Bạn phải tồn tại giữa đồng loại với tâm trí có điều kiện, nhưng bạn cũng phải tồn tại với chính bản thân bạn, với toàn bộ sự tỉnh táo còn có nghĩa là mở rộng; nó là không giới hạn. Cả hai điều đó đều cần thiết và phải được hoàn thiện. Tôi gọi những người thông thái là những người có khả năng hoàn thiện cả hai nhu cầu nói trên. Hoặc thái cực này là khờ dại; hoặc thái cực kia là có hại. Cho nên sống trong cộng đồng bạn cần phải có tâm trí, cần có điều kiện, nhưng sống cho riêng bạn thì tâm trí sẽ không cần, sự huấn luyện cũng sẽ không cần. Hãy sử dụng tâm trí như là một tiềm lực, đừng biến nó thành mục tiêu; khi có cơ hội bạn hãy thoát ra khỏi nó. Ở thời điểm một mình, bạn hãy thoát ra khỏi nó. Hãy ca ngợi thời điểm đó; hãy ca ngợi chính tồn tại, hãy ca ngợi chính sự sống. Hãy như là lễ hội tuyệt vời nếu bạn biết cách thoát ra khỏi điều kiện ràng buộc. Sự “thoát khỏi” này bạn sẽ học được thông qua Thiền động. Nó sẽ không là nguyên nhân; nó sẽ đến với bạn mà không có lý do nào. Thiền sẽ tạo ra hoàn cảnh và bạn sẽ khám phá ra vùng chưa biết; dần dần bạn sẽ bị đẩy lùi khỏi thói quen, tính máy móc cá nhân. Hãy can đảm lên thực hành thiền động một cách tích cực, mạnh mẽ và rồi tất cả mọi thứ còn lại sẽ theo bạn. Đó sẽ không phải là cái bạn làm, đó là cái sẽ diễn ra. Bạn không thể mang lại điều linh thiêng, nhưng bạn có thể cản trở nó xảy ra. Bạn không thể mang mặt trời vào nhà, nhưng bạn có thể đóng các ô cửa. Nói một cách tiêu cực, tâm trí có thể đóng các ô cửa. Nói một cách tiêu cực, tâm trí có thể làm được nhiều điều; nhưng ngược lại sẽ chẳng có điều gì xảy ra. Mọi thứ tích cực đều là quà tặng, mọi thứ tích cực đều là miềm vui sướng; nó đến với bạn, trong khi đó mọi thứ tiêu cực đều do bản thân bạn gây ra. Thiền và những phương tiện của nó có thể làm được một điều đẩy bạn thoát ra khỏi cản trở tiêu cực của bạn. Nó có thể mang bạn ra khỏi ngục tù tâm trí, và khi bạn thoát ra bạn sẽ cười lớn. Bước ra khỏi thật dễ dàng, ở đó thật có lý. Chỉ cần “một bước chân”. Nhưng chúng ta đã rơi vào vòng luẩn quẩn và “một bước chân” luôn bị lỡ . . . “một bước chân” đó có thể đưa bạn vào trung tâm. Bạn rơi vào vòng luẩn quẩn ở ngoại vi và chỉ lập lại một điều Ở một nơi nào đó sự liên tục sẽ bị phá vỡ. Đó là tất cả những gì có thể làm được bằng bất kỳ phương pháp thiền nào. Nếu sự liên tục bị phá vỡ, nếu bạn trở nên bị đứt đoạn với quá khứ, vậy thì đó chính là thời điểm bùng nổ! Ở chính thời điểm đó bạn đang quay vào trung tâm, vào trung tâm bản thể bạn, và rồi bạn sẽ nhận ra rằng tất cả luôn là của bạn, tất cả những cái đó chỉ chờ đợi bạn mà thôi. Xem Chương 2 – Quay về Mục lục
Nhập định là gì? Nhập định là khi tinh tấn dụng công, hơi thở của mình ngừng lại không còn hô hấp nữa. Đây không phải là chết, đây tức là nhập định hay còn gọi là nhập sơ thiền. Cảnh giới lúc nhập định thì không có một chút vọng tưởng nào, trong tâm một niệm chẳng nẩy sinh, bụi trần chẳng nhiễm. Nếu có thể đi đứng nằm ngồi không sinh một niệm nào, không nhiễm ô bụi trần thì đó là lúc dụng công đấy. Không nhất định ngồi mới gọi là dụng công tham thiền. Người học Phật một khi đã Nhập định thì có thể ở trong định bao lâu tùy ý. Như 1 tuần, vài tháng, 10 năm…hoặc có khi cả vài ngàn năm như Tôn giả Ma Ha Ca Diếp hiện đang ở núi Kê Túc – Trung Hoa. Các cảnh giới trên bước đường học Phật. Định lực là gì. Ngũ Ấm Ma là gì. Ma Ba Tuần là gì. Quỷ hấp tinh là quỷ gì. Hành Dịch bệnh quỷ vương Lệ quỷ. Cách phòng tránh Tẩu hỏa nhập ma khi thiền Nhập Định là gì * Tuy vậy cần phải biết rằng, nhập định chỉ là cảnh giới, nó không có nghĩa là đã giác ngộ hay ra khỏi sanh tử luân hồi. “Như bậc tham thiền khi nhập định thấy định cảnh mênh mang rỗng không trong suốt, tự tại an nhàn, rồi sanh niệm ưa thích; hay khi tỏ ngộ được một đạo lý cao siêu, rồi vui mừng chấp giữ lấy, cũng đều thuộc về “có tướng.” Và đã “có tướng” tức là có hư vọng… Khi còn ngồi thiền, còn nhiếp tâm, còn tham thoại đầu, còn nhập định xuất định, đều còn ở trong vòng phương tiện. Và thật ra cảnh nội chứng còn bước những nấc thang từ thấp đến cao. Chừng nào đến bậc vô tu, mới không còn dùng phương tiện, mới có thể nói các pháp đều không. Nếu chưa được như thế, thì một pháp nhỏ như mảy bụi cũng đều có thật; vì gần lửa còn thấy nóng, ở giữa sương tuyết còn thấy lạnh, một mũi gai nhỏ đâm vào thịt còn biết đau, đâu có cái gì là không?” Sơ thiền này khác hẳn với sự ngủ nghỉ, quý-vị đừng cho rằng ngủ tức là nhập định. Ngủ không những là còn hô hấp, mà nhiều người còn ngáy pho pho khiến kẻ khác nghe như sấm vậy. Bởi vậy sự hô hấp của quý-vị đã ngừng hay chưa, những vị thiện-tri-thức nhìn sẽ biết ngay. Có kẻ nói rằng “Tôi cảm thấy là tôi không còn hô hấp nữa.” ó tức là giả, tức là mạo xưng. Nếu mà biết thì mình vẫn chưa nhập được sơ thiền. Nên không thể đem nhãn hiệu giả ra rao bán được. Nhập ịnh Là Gì? Nhập Định Không Phải Là Ngủ Có người hỏi tôi “Nhập định và ngủ khác nhau ở chỗ nào?” Nói sơ qua thì khi nhập định, hành giả ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, hô hấp có thể ngừng, mạch có khi không đập, trông bề ngoài như là người chết, nhưng tri giác thì vẫn có đủ. Nhập định thì ngồi yên không động, có khi trong một ngày, hay mười ngày, cho đến cả tháng. Còn như nếu là người ngủ, thì thân xiêu vẹo. đầu nghiêng ngả, hơi thở ra vào phì phò, có khi còn phát ra tiếng ngáy như sấm. ó là chỗ khác nhau. Thực tập thiền cũng ví như người đi học, từ tiểu học, qua trung học, đại học, rồi tới giai đoạn nghiên cứu, sau mới được cấp bằng Tiến sĩ. Pháp môn tham thiền cũng giống như vậy, chia là bốn nấc, gọi là tứ thiền. Xin giảng sơ lược như sau Sơ thiền, còn gọi là “Ly sanh hỷ lạc địa”. ây là trạng thái đưa hành giả lìa hẳn cảnh giới chúng sanh, nên đạt được một trạng thái khoái lạc. Khoái lạc này không giống khoái lạc của phàm phu, bởi nó là công phu do tự tánh mang lại. Khi nhập sơ thiền, hơi thở ngưng lại. ây là nói ngoại hô hấp đình chỉ, nhưng nội hô hấp bất đầu hoạt động, giống như hiện tượng đông miên của các loài vật. Khi ấy, tâm thì trong suốt như nước, sáng như gương, soi chiếu tới bổn thể của tự tánh, nhưng vẫn hay biết là mình đương ngồi thiền. * Nhị thiền, gọi là “ịnh sanh hỷ lạc địa”. Vào trong định này, hành giả kinh nghiệm một thứ khoái lạc không gì sánh được, chính là “thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”, bởi trong cảnh giới này hành giả thấy khoái lạc quên luôn cả đói, có thể nhịn ăn, nhịn uống trong nhiều ngày mà không có vấn đề gì. Tuy nhiên, chớ chấp trước vào thành tựu đó. Như quả có ý như vậy, công trình có thể tiêu tan, dễ đi vào cảnh giới ma, nên chúng ta phải cẩn thận. Trong định này, không những hô hấp đình chỉ mà mạch cũng ngưng đập. Khi nào ra khỏi định, cơ thể lại trở lại hoạt động bình thường. Tam thiền gọi là “Ly hỷ diệu lạc địa”. Hành giả lìa sự hoan hỷ trong nhị thiền, đạt tới một thứ khoái lạc kỳ diệu không thể nói ra được, đồng thời cảm thấy hết thảy mọi thứ đều là Phật Pháp, mọi thứ đều là khoái lạc. Trong cảnh giới tam thiền, cả hô hấp và mạch đều đình chỉ, ý niệm cũng dừng lại. Khi ấy, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chẳng nghĩ phải, chẳng nghĩ quấy, một niệm cũng chẳng sanh. Tuy nhiên, hành giả cũng đừng tự hào, vì đó chỉ là một chặng trên đường tu mà thôi. ến được chỗ liễu thoát sanh tử hãy còn xa lắm, còn cách cả tám vạn bốn ngàn dặm đường nữa. * Tứ thiền gọi là “Xả niệm thanh tịnh địa”. Trong cảnh giới này, ngay cả niệm khoái lạc cũng không còn, tất cả đều bị xả bỏ và hành giả đạt tới một trạng thái thanh tịnh, không còn gì phải tạo tác. ây cũng gọi là cảnh giới “vô vi vô sở bất vi.” Giai đoạn tứ thiền cũng chỉ là một chặng trên đường dụng công tham thiền, đừng nhận lầm tự cho mình đã chứng quả, kẻo có thể phạm vào lỗi lầm của Tỳ kheo Vô Văn, mà đọa địa ngục. Tứ thiền vẫn còn trong phạm vi phàm phu. Phải tinh tấn dấn bước nữa, tới cảnh giới “ngũ bất hoàn thiên” mới gọi là chứng quả thánh. Vậy mà tới đây vẫn chưa giải quyết xong vấn đề sanh tử bởi chưa vượt khỏi vòng Tam giới. iểm này phải nhận cho rõ, không thể mơ hồ được. Cách Ngồi Thiền Nhập Định Để đến được cảnh giới của Nhập Định, người tu thiền phải giữ giới cực tinh nghiêm, ngày đêm tính tấn dụng công không giải đãi mới mong có ngày thành tựu. Hòa Thượng Tuyên Hóa Dạy “Người dụng công tu đạo cần có tâm nhẫn nại. Bất luận trường hợp khó khăn gian khổ nào, cũng cần nhẫn thọ. Nhẫn nại thì mới tới được bờ bên kia. Vì vậy trong khi đả thiền thất đừng nên sợ khổ. “Khổ tận cam lai” nghĩa là đắng hết, ngọt lại. Nếu mình chưa lặn xuống tận đáy, mình sẽ không bao giờ vươn lên tận chóp đỉnh. Căn nhà cao hằng ngàn trượng đều từ nơi mặt đất xây lên, không phải xây lên trong hư không. Bởi thế cần hạ thủ tham thiền nơi chốn căn bản, tức là trừ bỏ vọng tưởng. Nếu mình có thể ngừng vọng tưởng, thì lúc đó Tâm thanh, thủy hiện nguyệt, Ý định, thiên vô vân. Nghĩa là Lòng trong suốt, trăng hiện bóng nước. Ý an định, trời xanh không mây. Khi lòng thơi thản, trăm nạn tiêu hết. Ý yên định, mọi chuyện an bình. Rằng * Tâm chỉ niệm tuyệt chân phú quý. Tư dục đoạn tận chân phước điền. Nghĩa là Tâm ngừng, niệm dứt là giàu sang thật. Lòng tư dục cạn, ruộng phước mới chân. Tham thiền tức là dứt hết vọng, chỉ còn sự chân thật khử vọng tồn chân. Cũng giống như sàng cát đãi vàng vậy; ở trong cát mà tìm vàng đó là chuyện rất khó khăn. Tuy nhiên, nếu mình muốn tìm vàng thì phải tìm trong cát, tất phải có lòng nhẫn nại. Quý-vị có muốn hiểu rõ Phật tánh của mình không? Muốn được minh tâm kiến tánh chăng? Vậy thì phải nhẫn nại tu hành, nhẫn nại tham thiền, nghiên cứu, lâu dần thì tất nhiên sẽ quán thông, sẽ khai ngộ; “ồ! Thì ra là vậy.” Khi tham thiền thì mình đừng để ý đến chuyện khác, cứ một mực tham câu “Niệm Phật là Ai?” Phải tìm cho ra “Ai” đó, chỉ khi nào tìm ra rồi thì lúc đó mới ngừng tham. Công phu mình đã đến chỗ thuần thục rồi, thì tự nhiên sẽ gặt hái được kết quả tốt. * Khi ngồi trong thế kiết già, đem chân trái gác lên đùi phải, đem chân phải gác lên đùi trái. ó là vì chân trái thuộc về dương, chân phải thuộc về âm. Cho nên khi ngồi thiền, chân trái dương thì ở phía trên, chân phải âm thì ở phía dưới, đó cũng giống như là vô cực sinh thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi tức là âm và dương. Tuy ý nghĩa như vậy; nhưng để cho tiện, quý-vị muốn bỏ chân trái ở dưới, chân phải ở trên cũng được; bởi vì Pháp thì không nhất định, tùy theo thói quen của mỗi người, không cần phải chấp trước một phương pháp, một tư thế cố định nào cả. ể chân trái ở trên chân phải là một phương pháp mà thôi, không phải là một quy luật tuyệt đối; rằng quý-vị phải tuân theo như vậy. Nói tóm lại, kiết già phu tọa là thế mình dễ nhập định nhất. Nếu mình có thể nhập định trong lúc đi thì ngồi hay không ngồi đều không thành vấn đề. Cảnh giới lúc nhập định thì không có một chút vọng tưởng nào, trong tâm một niệm chẳng nẩy sinh, bụi trần chẳng nhiễm. Nếu có thể đi đứng nằm ngồi không sinh một niệm nào, không nhiễm ô bụi trần thì đó là lúc dụng công đấy. Không nhất định ngồi mới gọi là dụng công tham thiền. Chuyện Nhập Định Của Các Thiền Sư 1. Tiền Thân Của Khuy Cơ Pháp Sư Theo Đại Đường Tây Vực Ký, Pháp Sư Huyền Trang dâng biểu tâu vua, xin phép đi Thiên Trúc thỉnh Kinh. Hồi đó nhà ường đương có pháp lệnh cấm chỉ việc xuất cảnh, nên biểu tấu của Sư không được vua ường Thái Tông phê chuẩn. Tuy nhiên, vì đã có chủ ý từ trước, bất luận có được phép hay không, cuối cùng Sư vẫn nhất quyết ra đi. Từ Tràng An xuất phát, Sư một mình cứ nhắm phía Tây mà hướng tới. Có một hôm, Sư đi ngang qua một hang núi, thấy trước cửa hang có nhiều phân của loài dơi. Sư nghĩ rằng trong hang này ắt hẳn không có bóng người trú ngụ, vì nếu có, thì đâu có nhiều phân dơi như vậy! ộng lòng hiếu kỳ, Sư đi vô hang, và chẳng đi bao xa thì thấy một hình thù quái dị, như một quái vật, trên đầu thì tóc kết lại, ở đó chim làm thành một cái tổ, trong tổ chim nhỏ kêu chíp chíp! Mặt của quái vật thì phủ một lớp bụi đất dầy, hình thù như một tượng đá, Pháp sư lại gần quan sát kỹ hóa ra đây là một vị tu hành già, đã nhập định từ lâu. Sư lấy khánh gõ nhẹ, dụ cho vị này xuất định, và, chờ một lúc sau lão tăng bắt đầu cựa quậy. Sư hỏi ông vì lý do gì mà ngồi ở đây. Quai hàm lão tăng nhúc nhích được một lát thì có âm thanh phát ra như sau * -Tôi chờ đức Phật Hồng Dương tức Phật Thích-Ca xuất thế để tôi có thể giúp Ngài hoằng dương Phật Pháp. ến khi nghe Pháp sư nói cho hay Phật Thích Ca đã nhập Niết-bàn từ lâu rồi, thì lão tăng tỏ vẻ kinh ngạc hỏi – ức Thích-ca Mâu-ni ra đời hồi nào? – Ngài đã ra đời trên một ngàn năm nay và Ngài cũng đã nhập diệt từ lâu. Lão tăng nói – ức Thích-ca đã nhập Niết-bàn ư? Vậy thì tôi lại nhập định chờ đức Phật Bạch Dương tức Phật Di-lặc ra đời để giúp Ngài hoằng dương Phật Pháp. Pháp sư nói – Ông bất tất phải nhập định chờ đức Phật Di-lặc ra đời. Như vậy ông sẽ có thể bỏ lỡ cơ hội mật lần nữa. Chi bằng nay ông hãy theo tôi đi qua Chấn án tức Trung quốc. Ngày nào tôi trở về nước ông sẽ giúp tôi hoằng dương Phật Pháp. Lão tăng suy nghĩ xong cho là có lý, bèn tỏ ý ưng thuận với lời đề nghị của Pháp sư Huyền Trang. Pháp sư dặn dò như sau “Cơ thể này của ông đã quá cũ kỹ, ông nên đổi qua một thân mới. Khi tới Tràng An, ông xem căn nhà nào lợp bằng ngói sắc vàng lưu ly thì tìm vào đó đầu thai. Ngày sau, khi tôi ở Thiên trúc thỉnh Kinh về, tôi sẽ đến đón ông”. Dặn xong, hai người chia tay lên đường, người đi về hướng ông, kẻ về hướng Tây. * Năm Trinh Quán thứ 19 công nguyên năm 645, ngày 24 tháng giêng, Ngài về tới Tràng An, với sự nghênh đón của cả mấy chục ngàn người, cả Tăng lẫn tục gia. Vua ường Thái Tông phái tướng quốc là Lương Quốc Công, và Phòng Huyền Linh đón tiếp Ngài. Sau này Ngài trụ trì ở chùa Hoằng Phúc làm công tác phiên dịch Kinh điển Phật giáo. Ngài lưu học tại Ấn-độ mười hai năm, cộng với thời gian đi về năm năm, thành thử Ngài coi như là vị Tổ sư trong các Tăng sĩ du học. Kinh điển mang về Trung Hoa chứa trong năm trăm hai mươi cái rương, tính ra hơn sáu trăm bộ. Ngài cung hiến tất cả cho quốc gia. Vua ường vời đến triều kiến rồi ban thưởng cho Ngài. Thoạt gặp vua ường, Ngài có lời mừng “Cung hỷ bệ hạ!” Vua không hiểu ý tứ ra sao mới hỏi lại -“Mừng về chuyện gì?” – Mừng bệ hạ vừa có thái tử. Vua ường hết sức ngạc nhiên, đáp lại rằng – Không có chuyện đó. Pháp sư tự nghĩ “Rõ ràng ta đã căn dặn lão tăng đến đây đầu thai, mà sao nay lại không thấy?” Ngài liền nhập định quan sát. Thôi rồi! Ông ta không chịu tìm cho kỹ càng nên đã đầu thai lầm vào tôn phủ của Uất Trì Cung rồi! Ngài bèn tâu lên vua đầu đuôi sự việc. ường Thái Tông nói – Hóa ra sự thể như vậy. Pháp sư độ cho y đi. * Ngài tới thăm Uất Trì Cung, kể rõ sự tình. Khi thoạt trông thấy người cháu của vị công thần này, Ngài vô cùng hoan hỷ, bởi trang thiếu niên trông rất khôi ngô, tỏ dạng một anh tài, sau này ắt sẽ trở thành một pháp khí lớn. Do đó Ngài mở đầu nói ngay “Ngươi hãy theo ta xuất gia!”. Thiếu niên nghe nói tỏ vẻ không vui, đáp – ại sư nói gì? Bảo tôi xuất gia ư? âu có chuyện đó được? Nói rồi, thiếu niên quay gót bỏ đi. Pháp sư Huyền Trang chỉ còn cách tâu lại vua ường, nhờ vua chu toàn cho đoạn nhân duyên đó. ường Thái Tông bèn hạ chỉ, ra lịnh cho cháu của Uất trì Cung xuất gia. Vị đại thần tiếp chỉ gọi cháu ra thì gặp ngay sự cự tuyệt của cháu. Y nói – Có lý nào như vậy! Vì cớ gì Hoàng ế bắt cháu phải xuất gia? ể cháu gặp Hoàng ế nói cho rõ chuyện này! Ngày hôm sau, Uất trì Cung mang cháu ra mắt vua. Thiếu niên tâu lên – Bệ hạ bảo thần xuất gia, được lắm! Nhưng thần xin ba điều kiện. ường Thái Tông nói – Ngươi muốn bao nhiêu điều kiện cũng được. – Thần vốn thích uống rượu và không thể không có rượu. Vậy bất luận ở chỗ nào, phải có một xe chất đầy rượu cho thần. * Nhà vua thầm nghĩ “Giới của kẻ xuất gia là không được uống rượu. Có điều Pháp sư Huyền Trang đã có lời dặn dầu điều kiện nào cũng ưng thuận cho y.” Vua đáp – ược! Ta ưng thuận. iều kiện thứ hai là gì? – Thần biết rằng người xuất gia không được ăn thịt, nhưng thần lại thích món này. Vậy bất luận thần ở chỗ nào cũng phải có một xe thịt tươi đi theo thần. – Ta ưng thuận. Còn điều kiện thứ ba? Người cháu của Uất trì Cung không thể ngờ rằng nhà vua lại chịu cho hai điều kiện y vừa yêu cầu, y nói tiếp – Kẻ xuất gia thì không thể có vợ, nhưng thần thì không thể thiếu đàn bà. Vậy bất luận thần ở chỗ nào cũng phải có một xe chở con gái đi theo thần. * Vua ường nghĩ bụng “Ái chà! iều kiện này làm sao mà cho được? Nhưng Pháp sư đã dặn, dầu điều kiện nào cũng chấp thuận cho y”. Nghĩ vậy, vua đáp – ược! Ta hoàn toàn chuẩn y cả. Bây giờ ngươi xuất gia được rồi! Thiếu niên thấy không còn biện pháp nào khác để từ chối, đành miễn cưỡng nhận lời xuất gia. Cho nên, tới ngày đã định, khi y đi đến chùa ại Hưng Thiên để làm lễ, thì theo sau y, là một xe chở rượu, một xe chở thịt tươi, một xe chở mỹ nữ. Trong khi đó, tại chùa, cũng đã có sự chuẩn bị sẵn, nên khi nghe tin đoàn người sắp tới, tiếng chống và tiếng chuông trong chùa đều nhất tề gióng lên. Thoạt nghe tiếng chuông trống, thiếu niên bừng tỉnh ngộ “Ồ! Ta vốn là vị lão tăng năm đó, đến chỗ này để giúp Pháp sư Huyền Trang hoằng dương Phật Pháp”. Ngay đó, y đuổi hết cả đoàn ba xe về, và không cần một thứ gì nữa. Thiếu niên đó, sau này là ại sư Khuy Cơ, và được người đương thời đặt danh hiệu là Tam Xa Tổ Sư. Chuyện Nhập Định Của Các Thiền Sư 2. Tôn giả Ma ha Ca Diếp& Hòa Thượng Hư Vân Theo Cuộc Đời& Đạo Nghiệp của Hòa Thượng Hư Vân “…Nguyện đầu tiên khi trở về nước là đi tham bái núi Kê Túc, nơi tôn giả Ma Ha Ca Diếp đang nhập định đợi Phật Di Lặc ra đời. Tương truyền lúc tôn giả Ca Diếp vào núi, có bảy vị vua đi theo hộ tống, không đành lòng trở về, ở tại đây tu hành, thành thần hộ pháp, tức miếu Đại Vương. Tôi đi thẳng lên chánh điện của núi; trong ngôi chánh điện có thờ tôn tượng tôn giả Ca Diếp. Tương truyền, khi tôn giả A Nan đến lễ bái thì cửa đá tự nhiên mở. Thánh cảnh trang nghiêm huyền diệu. Thạch đá tự biến thành cửa đá gọi là cửa Hoa Thủ. Ngài Ma Ha Ca Diếp đang nhập định bên trong. Cửa đá lớn tựa như cửa thành, cao cả vài trăm thước, rộng hơn trăm thước. Hai cánh cửa đều đóng nhưng đường lằn giữa hai cửa hiện rõ ràng. Hôm ấy, du khách cùng người địa phương dẫn đường đến rất nhiều. Lúc tôi dâng hương lễ bái, tự nhiên nghe âm thanh của ba tiếng đại hồng chung; người địa phương đều vui mừng lễ bái theo và nói “Hễ mỗi lần có bậc dị nhân đến thì đều nghe tiếng chuông trống, mõ khánh vang lên. Chúng tôi đã từng nghe tiếng khánh mõ, mà chưa từng nghe tiếng đại hồng chung. Nay Sư Phụ đến đây lễ bái lại nghe tiếng đại hồng chung, chắc đạo hạnh của Ngài cao lắm.” * Ngài Hư Vân thành tựu Tam vô lậu học thì ai cũng biết, bởi Ngài là bậc Long Tượng trong Phật pháp. Ngài cũng nhiều lần nhập Định, hồi ký của Ngài ghi lại “Năm Quang Tự thứ 281902/03. Gần cuối năm, núi non đều đóng tuyết, hang sâu khí lạnh buốt xương. Một mình tôi đơn độc tu trì trong am tranh, thân tâm thanh tịnh. Ngày nọ, sau khi bỏ khoai vào nồi, tôi ngồi xếp bằng đợi khoai chín, tự nhiên nhập định. Qua năm mới, tôi nhập định không biết ngày giờ. Trên núi, gần am có các thầy như Phục Thành lấy làm lạ vì sao đã lâu mà tôi chưa tới, nên đến am chúc mừng năm mới cùng tặng quà cáp. Họ thấy ngoài am đầy dấu chân hổ, mà chẳng thấy dấu chân người. Họ đi vào, nhìn kỹ, thấy tôi đang nhập định, liền đánh khánh khiến xả định. * Các thầy hỏi “Thầy đã ăn cơm chưa?” Tôi đáp “Thưa chưa! Khoai vẫn còn trong nồi, chắc đã chín rồi.” Mở nắp nồi ra, thấy mốc đầy cả tấc, nước đóng cứng như đá. Thầy Phục Thành chúc mừng nói “Nhất định là thầy đã nhập định hơn nữa tháng rồi!” Lần Ngài nhập Định khi đang giảng Kinh ở Thái Lan, năm 1907- 1908 “…Ngày nọ, khi đang ngồi thiền, tôi bỗng dưng nhập định, quên rằng mình đang giảng kinh. Tôi nhập định suốt bảy ngày. Tin này lan tràn cả thủ đô Xiêm La. Từ Quốc Vương, đại quan, cho đến thiện nam tín nữ, đều đến lễ bái. Sau khi xuất định, giảng kinh xong, Quốc Vương thỉnh tôi đến hoàng cung thiết lễ cúng dường, chí thành quy y. Quan thân sĩ thứ cùng dân chúng quy y tôi cả vài ngàn người…” Nhập Định là gì – Theo Hòa Thượng Tuyên Hóa Khai Thị Tuệ Tâm 2021.
Tags nansen osho nguyễn đình hách nxb thời đại 2009 thiền-nghệ thuật của nhập định ebook pdf admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên Thiền định nghệ thuật của lễ hội. yoga sự trưởng thành của nhận thức. không làm thông qua làm. thiền hỗn loạn. thiền động hoặc thiền tĩnh. di chuyển sâu vào vùng được biết đến. kundalini sự thức tỉnh của sức sống. chứng ngộ khởi đầu không điểm kết. Thiền-Nghệ Thuật Của Nhập Định NXB Thời Đại 2009 Nansen Osho Dịch Nguyễn Đình Hách 367 Trang File PDF-SCAN Link download Zalo/Viber 0944625325 buihuuhanh Hành Trình Nội Tại NXB Tổng Hợp 2007 - Nansen Osho, 258 Trang23/11/2015 Kinh Nghiệm Mật Tông NXB Hà Nội 2001 - Nansen Osho, 202 Trang07/04/2015 Từ Thuốc Tới Thiền NXB Văn Hóa Thông Tin 2004 - Nansen Osho, 342 Trang03/03/2015 Ngón Tay Chỉ Trăng NXB Hà Nội 2010 - Nansen Osho, 582 Trang07/04/2015 Trò Chuyện Với Vĩ Nhân NXB Văn Hóa Văn Nghệ 2020 - Osho, 393 Trang05/06/2017 Những Điều Huyền Bí Tiềm Ẩn NXB Văn Hóa Thông Tin 2008 - Nasen Osho, 279 Trang22/09/2020 Thuật Giả Kim Mới Hướng Bạn Vào Trong NXB Thời Đại 2009 - Nasen Osho, 214 Trang22/09/2020 Thiền-Nghệ Thuật Của Nhập Định NXB Thời Đại 2009 - Nansen Osho, 367 Trang22/09/2020 Hạt Cải Trời Tập 1 NXB Hà Nội 2005 - Nasen Osho, 169 Trang07/04/2015 Tín Tâm Minh-Sách Về Cái Không NXB Hà Nội 2010 - Nansen Osho, 400 Trang07/04/2015 Cuộc Sống, Tình Yêu, Tiếng Cười NXB Hà Nội 2009 - Nansen Osho, 232 Trang06/04/2015 Zorba Phật NXB Thời Đại 2009 - Nansen Osho, 423 Trang23/12/2016 Không Nước Không Trăng NXB Hà Nội 2009 - Nansen Osho, 346 Trang07/04/2015 Hành Trình Nội Tại NXB Tổng Hợp 2007 - Nansen Osho, 258 Trang03/03/2015 Niềm Vui Sướng-Hạnh Phúc Đến Từ Chính Tâm Hồn NXB Tôn Giáo 2010 - Osho, 285 Trang01/08/2019 Share This Page Forums Forums Members Members Menu
thiền nghệ thuật của nhập định